Thứ Năm, 13 tháng 1, 2011

Dâu Tây dạy con, mẹ chồng đại khai nhãn giới

Dâu Tây dạy con, mẹ chồng đại khai nhãn giới (Cách dạy con ở Mỹ)

Con trai tôi du học, sau khi tốt nghiệp thì định cư tại Mỹ, và đã kiếm cho tôi cô con dâu người Mỹ tên Susan. Hiện giờ, cháu trai Peter đã 3 tuổi. Mùa hè năm nay, con trai đăng ký visa "thăm người thân". Thời gian 3 tháng tôi lưu lại Mỹ, con dâu Susan có cách giáo dục con cái làm tôi đây - người mẹ chồng - phải đại khai nhãn giới.
 
Phần 1: Không ăn thì cứ nhịn đói
Mỗi buổi sáng, sau khi Peter thức dậy, Susan để phần ăn sang lên bàn và bận rộn làm việc khác. Peter sẽ tự mình leo lên chiếc ghế, uống sữa, ăn bánh sandwich, sau khi ăn no, nó sẽ tự về phòng của mình, tự tìm quần áo trên tủ, rồi tự lấy giày, tự mình mặc lên. Bất kể chỉ mới 3 tuổi thôi, vẫn chưa phân biệt rõ ràng mặt trái hay mặt phải của bít tất, giày trái hay giày phải.
Có một lần, Peter lại mặc ngược chiếc quần lên người, tôi vội vàng chạy đến muốn thay lại cho cháu, nhưng đã bị Susan cản lại. Nó nói, nếu cảm thấy không thoải mái tự cháu sẽ cởi ra, và mặc lại; nếu nó không cảm thấy không có gì là không thoải mái, vậy thì tùy. Và nguyên ngày đó, Peter mặc cái quần ngược đó chạy tới chạy lui, Susan như không thấy gì hết.
Một lần nữa, Peter ra ngoài chơi với cháu nhà hàng xóm, chưa được bao lâu thì nó chạy thở hổn hển về đến nhà, nói với Susan: “Mẹ ơi, Lusi nói cái quần của con mặc ngược rồi, đúng không? Lusi là con nhà hàng xóm, năm nay 5 tuổi. Susan mỉm cười nói: “Đúng vậy, con có muốn mặc lại không?” Peter gật gật đầu, tự mình cởi quần ra, xem tỉ mỉ rồi, bắt đầu mặc lại. Từ lần đó về sau, Peter không bao giờ mặc ngược quần nữa.
Tôi đã không kiềm được mà nhớ lại, cháu gái ngoại của tôi lúc 5 - 6 tuổi chưa biết dùng đũa, lúc học tiểu học còn chưa biết cột dây giày, và bây giờ đang theo trung học dạng ký túc xá, mỗi cuối tuần là đem một đống quần áo dơ về nhà.
Có một buổi trưa, Peter giận dỗi, không chịu ăn cơm. Susan la rầy mấy câu, Peter giận hờn đẩy khay cơm xuống đất, thức ăn trên khay rớt đầy trên đất. Susan nhìn Peter, giọng nói nghiêm khắc: “Xem ra con đúng là không muốn ăn thật! Nhớ lấy, từ giờ đến sáng mai, con không được ăn gì hết.” Peter gật gật đầu, kiên quyết trả lời: “Yes!” Và tôi chợt cười thầm, hai mẹ con này cứng đầu như nhau!
Buổi chiều, Susan bàn với tôi, nhờ tôi nấu món ăn Việt Nam cho bữa tối . Tôi lại thầm nghĩ, Peter đặc biệt thích món ăn Việt Nam, nhất định Susan thấy sáng nay cháu không ăn gì hết, nên muốn buổi tối cháu ăn ngon và nhiều hơn. Tôi bèn trổ tài nấu ăn, làm món sườn chua ngọt mà Peter thích nhất, món tôm, và còn dùng mì Ý để làm món mì kiểu Việt Nam mà Peter rất thích, người nhỏ nhỏ như thế mà có thể ăn được một tô lớn.
Bắt đầu bữa cơm tối, Peter vui mừng nhảy lên ghế ngồi. Susan đến lấy đi dĩa và nĩa của con, nói: “Chúng ta giao ước rồi phải không, hôm nay con không được ăn gì hết, chính con cũng đồng ý rồi đó.” Peter nhìn nét mặt nghiêm túc của người mẹ, “òa” lên khóc, vừa khóc vừa nói: “Mẹ ơi, con đói, con muốn ăn cơm.” “Không được, nói rồi là phải giữ lời.” Susan không một chút động lòng. Tôi thấy đau lòng muốn thay cháu cầu xin, nói đỡ lời dùm, nhưng thấy ánh mắt ra hiệu của con trai tôi. Nhớ lại lúc mới đến Mỹ, con trai có nói với tôi: “Ớ nước Mỹ, lúc cha mẹ giáo dục con cái, người ngoài không nên nhúng tay, bất kể là trưởng bối cũng không ngoại lệ.” Không còn cách nào, tôi chỉ còn giữ im lặng mà thôi. Bữa cơm đó, từ đầu đến cuối, Peter tội nghiệp chỉ ngồi chơi với chiếc xe mô hình, mắt trưng trừng nhìn ba người lớn chúng tôi ăn như hổ đói. Đến đó tôi mới biết dụng ý của Susan khi nhờ tôi nấu món Việt. Tôi tin rằng, lần sau, trong lúc Peter muốn giận hờn quăng liệng thức ăn, nhất định sẽ nghĩ đến kinh nghiệm bụng đói nhìn ba mẹ và bà nội ăn cao lương mỹ vị. Bụng đói không dễ chịu tí nào, huống chi là đối mặt với món mình thích ăn.
Buổi tối, tôi và Susan cùng đến chúc Peter ngủ ngon. Peter cẩn thận dè dặt hỏi: “Mẹ ơi, con đói lắm, giờ con có thể ăn món Việt không?” Susan mỉm cười lắc đầu, kiên quyết nói: “Không!” Peter nuốt nước miếng, lại hỏi: “Vậy để con ngủ dậy rồi khi mở mắt con được ăn chứ?” “Đương nhiên được rồi”, Susan thật dịu dàng khẽ đáp. Peter đã cười tươi hẳn ra.
Sau bài học này, Peter rất tích cực ăn cơm, nó không muốn vì “tuyệt thực” mà lỡ bữa ăn ngon, và chịu cực hình bụng đói. Mỗi lần nhìn thấy Peter ngoạm từng phần lớn thức ăn, lúc miệng và mặt dính đầy thức ăn, tôi lại nhớ đến cháu ngoại, hồi bằng tuổi Peter; mấy người cầm tô cơm dí theo sau đuôi nó, dỗ dành, mà nó còn chưa chịu ngoan ngõan ăn, mà còn ra điều kiện: ăn xong chén cơm mua một kiện đồ chơi, ăn thêm một chén thì mua thêm một kiện đồ chơi…
 
Phần 2: Ăn miếng trả miếng
Có một lần, chúng tôi dắt Peter ra công viên chơi. Rất nhanh, Peter đã cùng hai cô bé chơi nấu ăn với nhau. Cái nồi nhỏ bằng mủ, cái xẻng nhỏ, cái thau nhỏ, những cái chén nhỏ xếp đầy trên đường. Bất ngờ, Peter tinh nghịch cầm cái nồi bằng nhựa lên, đập rất mạnh lên đầu một cô bé. Cô bé bần thần một lúc trước khi oà khóc thật lớn. Cháu gái kia thấy tình hình vậy cũng òa khóc theo. Đại khái, Peter cũng không nghĩ đến hậu quả nghiêm trọng như vậy sẽ xảy ra, đứng qua một bên, trợn mắt nhìn. Susan đi tới. Sau khi hiểu được đầu đuôi sự việc, nó không quát nạt một tiếng, cầm lấy cái nồi ấy, gõ mạnh một cái lên đầu Peter. Peter không phòng bị, té ngã xuống bãi cỏ, khóc nức nở. Susan hỏi Peter: “Đau không? Lần sau có còn làm thế nữa không?” Peter vừa khóc vừa lắc đầu. Tôi tin rằng, lần sau nó sẽ không làm thế nữa.
Cậu của Peter tặng cho cháu một chiếc xe đạp nhỏ, Peter rất thích, khư khư giữ làm bảo bối không cho ai đụng vào. Lusi cô bé trong xóm, là bạn thân của Peter, đã mấy lần thỉnh cầu Peter cho chạy thử chiếc xe nhỏ này, Peter không đồng ý. Một lần, mấy cháu đang chơi chung với nhau, Lusi thừa lúc Peter không để ý, lén lén nhảy lên chiếc xe và đạp mau đi. Khi biết ra, Peter rất phẫn nộ, đến méc mẹ. Susan đang ngồi nói chuyện và uống café với mẹ của những đứa nhỏ kia, liền mỉm cười trả lời con: “Chuyện của chúng con thì chúng con tự giải quyết, mẹ không xen vào được.” Peter bất lực quay đi. Một lát sau, Lusi chạy chiếc xe về. Vừa thấy Lusi, Peter lập tức chạy tới đẩy bạn té xuống đất, giật lại chiếc xe. Lusi ngồi bệt dưới đất, khóc ré lên. Susan ẵm Lusi dậy và dỗ dành một lát. Rất nhanh sau đó Lusi đã chơi vui vẻ lại với những bạn còn lại. Peter tự mình chạy xe tới lui một lát thì cảm thấy hơi nhàm chán, nhìn thấy những bạn kia chơi thật vui vẻ với nhau nên nó muốn tham gia chung. Nó chạy tới chỗ Susan, lầu bầu thưa: “Mẹ, con muốn chơi với Lusi và tụi nó.” Susan không đả động gì và trả lời: “Con tự kiếm mấy bạn ấy vậy!” "Mẹ ơi, mẹ đi với con nhen”, Peter thỉnh cầu. “Chuyện này không được rồi, lúc nãy con đã làm cho Lusi khóc, giờ con lại muốn chơi với mọi người, vậy con phải tự đi giải quyết vấn đề". Peter leo lên chiếc xe và chạy từ từ đến chỗ Lusi, lúc gần đến chỗ, thì nó lại quay ngược đi. Chạy tới lui mấy vòng như vậy, không biết từ lúc nào mà Peter và Lusi lại vui vẻ với nhau, hợp thành nhóm ồn ào.
 
Dạy dỗ chăm nom con cái là chuyện của cha mẹ
 
Song thân Susan , biết tôi đang ở Mỹ, nên lái xe từ California đến thăm chúng tôi. Nhà có khách tới, Peter rất hào hứng, chạy lên chạy xuống. Nó lấy cái thùng đựng đầy nước, rồi xách đi tới đi lui trong nhà. Susan cảnh cáo nó mấy lần rồi, rằng không được làm nước văng lung tung trong nhà. Peter để ngoài tai. Cuối cùng Peter đã làm nước đổ hết ra nền. Chưa thấy mình làm sai, Peter còn đắc ý dẫm đạp lên vũng nước, làm ướt hết quần áo. Tôi lập tức chạy đi lấy cây lau nhà để dọn dẹp. Susan giật lại cây lau nhà và đem đưa cho Peter, nói với nó: “Lau sàn cho khô, cởi đồ ướt ra và tự mình giặt sạch.” Peter không chịu vừa khóc vừa la. Susan không nói thêm lời nào, lập tức kéo nó đến phòng trữ đồ, đóng chặt cửa lại. Nghe từ bên trong tiếng khóc hoảng sợ của nó, tim tôi đau thắt lại, rất muốn chạy đến ẵm cháu ra. Bà ngoại của Peter lại cản tôi, nói: “Đó là chuyện của Susan". Một
lát sau, Peter không khóc nữa, nó ở trong phòng trữ đồ hét thật lớn: “Mẹ ơi, con sai rồi!” Susan đứng ở ngoài hỏi: “Thế giờ con biết phải làm gì chưa?” “Con biết.” Susan mở cửa ra, Peter chạy từ phòng trữ đồ ra, nước mắt đầy mặt. Nó cầm cây lau nhà cao gấp đôi nó ra sức lau cho khô sàn nhà. Sau đó tự cởi quần áo dơ ra, xách trên tay, trần truồng chạy vô nhà tắm, hí hửng giặt đồ. Ông bà ngoại của nó nhìn vào thái độ kinh ngạc của tôi, thích thú mỉm cười. Sự việc này làm tôi cảm động vô cùng.
 
Ở rất nhiều gia đình Trung Quốc, cha mẹ giáo dục con cái thì thường phát sinh vấn đề “đại thế chiến”. Trẻ luôn luôn được ngoại nuông chiều, nội thì can ngăn, vợ chồng cãi nhau, gà bay chó chạy. Sau này, tôi và ông bà ngoại của Peter trong khi trò chuyện có nhắc đến chuyện này, một câu họ nói đã gây ấn tượng sâu sắc cho tôi : “Con trẻ là con cái của cha mẹ chúng, trước tiên phải tôn trọng cách giáo dục của cha mẹ". Đứa bé tuy còn nhỏ, nhưng thường mang tính nghịch ngợm bẩm sinh. Nếu quan sát thấy các thành viên trong gia đình có mâu thuẫn, nó sẽ nhạy bén lợi dụng sơ hở. Việc này không cải thiện hành vi của nó, và chẳng ích lợi gì cho nó. Ngược lại còn làm cho vấn đề càng nghiêm trọng hơn, thậm chí còn gây ra những vấn đề khác.
 
Ngoài ra, nếu các thành viên trong gia đình xung đột, không khí gia đình không hòa thuận, trẻ sẽ có cảm giác bất an, sự phát triển tâm lý của nó sẽ bị ảnh hưởng bất lợi. Cho nên, dù ông bà cha mẹ bất đồng về cách giáo dục con cháu, hay là vợ chồng có quan niệm giáo dục khác nhau, cũng không nên để lộ sự mâu thuẫn trước mặt con cái. Ông bà ngoại của Peter ở lại một tuần và chuẩn bị về Cali. Hai ngày trước khi đi, ông ngoại của Peter rất nghiêm túc hỏi con gái mình: “Peter muốn chiếc xe đào đất, ba có thể mua cho nó chứ?”. Susan suy nghĩ rồi nói: “Ba mẹ lần này đã mua cho nó đôi giày trượt băng làm qùa rồi. Đợi đến Noel ba hãy mua chiếc xe đó cho nó!”
Tôi không biết ông ngoại của Peter nói như thế nào với thằng nhóc này, mà sau đó tôi dắt cháu đi siêu thị, nó chỉ tay vào món đồ chơi, khoe “Ông ngoại nói, đến Noel sẽ mua tặng cháu cái này” với giọng thích thú và mong đợi.
Susan nghiêm khắc với con như vậy nhưng Peter lại yêu thương mẹ hết mực. Khi chơi ở ngoài, cháu hay thu thập một số hoa lá mà cháu cho là đẹp rồi trịnh trọng tặng mẹ. Người ngoài tặng quà cho cháu, cháu luôn gọi mẹ cùng mở quà; có thức ăn ngon, cháu luôn để phần một nửa cho mẹ.
Nghĩ đến nhiều đứa trẻ Việt Nam coi thường và lạnh nhạt đối xử đối với cha mẹ, tôi không thể không kính phục cô con dâu Tây này của tôi. Theo tôi, cách giáo dục con cái của bà mẹ Phương Tây này rất xứng đáng để các bà mẹ Phương Đông như tôi học theo
... (Nguyễn Xuân Bích Huyên chuyển tới)

Thứ Bảy, 8 tháng 1, 2011

Hungary đấu giá tác phẩm nghệ thuật thời Cộng sản

Hungary đấu giá tác phẩm nghệ thuật thời Cộng sản

Rob Brown
BBC News

Nhân viên ở Gallery Pinter tại Budapest đang treo một trong nhiều bức tranh Lenin.
Gần hai tháng trôi qua kể từ khi xảy ra sự cố vỡ hồ chứa, tràn bùn đỏ độc hại, Hungary quyết định sử dụng 'di sản thời Cộng sản' của mình để giúp đỡ cho các nạn nhân của vụ thảm họa môi trường.
Hàng chục bức hình Lenin chen lấn nhau trên bức tường gạch của một triển lãm ở thủ đô Hungary, Budapest. Một bức tượng bán thân của cố lãnh đạo Cộng sản nhìn lên từ vị trí của nó trong góc phòng.
Một bức họa khác cho thấy một người lính Nga vui vẻ, một tay ôm khẩu súng, tay kia ôm một cô gái, với các em nhỏ vây xung quanh.
Đây chỉ là một vài trong nhiều tác phẩm nghệ thuật mới được đưa ra trở lại, sau khi được tàng trữ trong các tầng hầm và các phòng lưu trữ khác ở các tòa nhà cũ của chính phủ Hungary từ hồi năm 1990.
Các bức tranh, ảnh và tác phẩm điêu khắc, một di sản của thời kỳ Cộng sản Hungary, sẽ được bán đấu giá để chính phủ gây quỹ cho những người bị ảnh hưởng bởi đợt tràn bùn đỏ bauxite độc hại hồi tháng Mười.
Gỡ bụi
Đã có nhiều tranh và tượng của cố lãnh tụ cộng sản Lenin được trưng bày ở Hungary trước kia.
Thông cáo báo chí của chính phủ Hungary nói về cuộc bán đấu giá: "Chúng tôi chứng minh rằng các vật vô ích nhất có thể được sử dụng cho một mục đích hữu ích."
Phần lớn các tác phẩm nghệ thuật với chủ đề Cộng sản của Hungary đã được gỡ bỏ sau sự sụp đổ của chế độ Cộng sản ở nước này hồi năm 1989.
"Những tranh tượng này đã nằm hứng bụi trong 20 năm qua," ông Bence Retvari, thư ký ở Quốc hội và quan chức thuộc Bộ Tư pháp Hungary nói.
"Nhà nước không muốn chăm sóc các tàn tích Cộng sản chủ nghĩa nữa."
Được gỡ ra khỏi bụi bặm và trưng bày lần đầu tiên sau 20 năm, 230 hiện vật đang chờ các nhà đấu giá tiềm năng mua tại phòng trưng bày Pinter ở Budapest.
"Cuộc bán đấu giá sắp tới đây đang tỏ ra rất được mọi người quan tâm," Anna Losonci, người của Gallery Pinter nói với Thế giới vụ đài BBC.
"Chúng tôi nhận được rất nhiều sự quan tâm từ các nhà sưu tập ở đây và ở nước ngoài."
Chính phủ dự kiến khách mua sẽ bao gồm các doanh nhân, sinh viên và các nhà sưu tầm nghiêm túc từ Hungary, Ba Lan, Hà Lan và những nơi xa hơn như Mỹ.
Giá khởi điểm cho các đồ vật khác nhau từ khoảng 5 dollar cho một bức hình Lenin in kim từ những năm 1970 cho tới gần 1.500 dollar cho một bức tranh sơn dầu mang tên "Tình hữu nghị Xô-Hung".
Các nhà tổ chức tại Gallery đang hy vọng rằng các những người tham dự đấu thầu sẽ đẩy giá lên, có thể tới mức đưa được một số hiện vật gia nhập một bảo tàng.
Không bao giờ trở lại
Hungary còn nổi tiếng với nhiều dòng nghệ thuật hội họa khác.
Cuộc bán đấu giá, dự kiến tổ chức vào ngày 6 tháng 12, được mang tên "Không bao giờ nữa! Lần thứ ba". Forgacs Gergely từ Gallery Pinter cho biết tiêu đề này là một cách chơi chữ.
Ông nói: "Đó là từ ngữ mà một nhà tổ chức đấu giá tại Hungary sử dụng khi họ đập chiếc búa của họ xuống trên bàn đấu giá, nhưng nó cũng nói đến hy vọng của chúng tôi ở đây, tại Hungary, rằng chúng tôi sẽ không bao giờ quay trở lại chủ nghĩa Cộng sản nữa".
Tinh thần này cũng có thể được nhìn thấy qua các logo sử dụng trong các catalogue trên mạng trực tuyến quảng bá về phiên đấu giá, trong đó cho thấy hình ảnh của Lenin với một cái búa ở trên đầu ông này. Theo nghĩa đen, có thể hiểu rằng Lenin được đấu giá.
"Mọi người thưởng thức nghệ thuật theo những cách thức khác nhau," cô Losonci nói. Cô còn cho biết thêm rằng đối với một số người, điều này có thể gây ra một cảm giác hoài cổ, nhưng với những người khác, nó có thể gợi lại những kỷ niệm xấu.
Một thành viên đang làm việc cho chính phủ Hungary, vốn yêu cầu không nêu danh tính, cho BBC biết: "Tôi đang ở độ tuổi 20, tôi đã lớn lên trong một thời đại hoàn toàn khác.
"Nhưng một số người Hungary lớn tuổi hơn tôi có thể thấy nghệ thuật này như một biểu tượng của chế độ Cộng sản. Họ vẫn còn ký ức về nó. Khi họ nhìn thấy một bức tranh của Lenin, nó có thể gợi cho họ trở lại ngôi trường với một bức chân dung của ông ta trong mỗi lớp học của họ."
Mặc dù có mức độ nghiêm túc và ý nghĩa lịch sử của các công trình nghệ thuật, các nhà tổ chức vẫn đưa vào quy trình đấu giá một số yếu tố hài hước tươi trẻ.
Theo đó, chủ trì phiên đấu giá sẽ là hai thanh niên Hungary với bộ dạng của các nhân vật trong hoạt hình, muốn giúp đỡ cho những người bị ảnh hưởng bởi trận lũ bùn đỏ.
"Chúng tôi hy vọng điều này sẽ tạo ra một sự kiện thoải mái và thú vị hơn", cô Anna Losonci nói. "Nhưng chúng tôi sẽ tôn trọng các hiện vật và tôn trọng những người từng sống qua thời đó."
Hóa chất độc hại
Vụ sụt lở hồ bùn đỏ gây ra thảm họa môi trường xảy ra chỉ cách đây hai tháng.
Tất cả số tiền thu được từ cuộc bán đấu giá sẽ được tặng cho tổ chức từ thiện Công giáo Caritas, vốn sẽ sử dụng số tiền này để giúp đỡ những người dân ở các thị trấn bị tàn phá bởi trận lở bùn.
Hungary lúc trước đã tuyên bố tình trạng khẩn cấp, khi một hồ chứa tại một nhà máy sản xuất alumina bị vỡ, làm bung ra dòng chất thải hóa chất.
Thảm họa này làm nhiều người chết và hơn 100 người bị thương, và người ta dự kiến sẽ mất ít nhất một năm để thanh tẩy các thiệt hại.
Các ước tính của chính phủ Hungary cho rằng nước này sẽ tốn hàng chục triệu đô-la để giải quyết những hậu quả mà vụ thảm họa rò rỉ hóa chất gây ra.

Wikileaks gây rắc rối ngoại giao


Wikileaks gây rắc rối ngoại giao

Sunday, December 05, 2010   
 
Ngô Nhân Dụng

Trước đây 30 năm, muốn ăn cắp một tài liệu mật của Bộ Ngoại Giao Mỹ rồi chuyển sang cho một người nào đó, công việc rất vất vả. Phải trang bị một cái máy chụp ảnh nhỏ xíu, nhỏ hơn cái đồng hồ đeo tay. Về nhà, lấy phim ra rồi phải tìm cách giấu trong một cái gì cũng nhỏ xíu nữa, nhỏ bằng que diêm hay cái đồng xu, nhìn bên ngoài không ai biết trong đó là cuốn phim micro. Tiếp theo, phải chuyển nó đi, qua những “hộp thư chết” hoặc là trao tay nhau trong một đám đông người.
Bây giờ cậu Bradley Manning, 23 tuổi, có thể ăn cắp 250,000 tài liệu của Bộ Ngoại Giao Mỹ, chép tất cả vào một cái đĩa, đút túi đem về nhà. Rồi tới một ngày, cậu chuyển những tài liệu đó cho mạng lưới Wikileaks, trong nháy mắt. Julian Assange, chủ biên mạng lưới này đã lần lượt tung những bí mật này cho báo chí coi và in lại. Lần này, ba tờ báo nhận được tin mật là Der Spiegel (Đức), El Pais (Tây Ban Nha) và Guardian (Anh), tờ báo Anh này đã cho đồng nghiệp New York Times được dùng chung tài liệu.
Có 900,000 công dân Mỹ được “bạch hóa về an ninh” (clearance) để có mật mã vào xem những tài liệu mật loại này; trong đó có cậu Manning. Cậu bước vào phòng làm việc với những cái đĩa CD ca nhạc của Lady Gaga, cậu xóa nhạc trong đó đi, rồi dùng mật mã để được phép vào mạng lưới Secret Internet Protocol Router (SIPR), chép các bức điện thư (email) chứa trong đó vào đĩa. Manning hiện đang nằm trong nhà tù ở Virginia, chờ giám định y khoa xem cậu có bị bệnh thần kinh nặng hay không. Nếu bị truy tố và kết án, cậu có thể lãnh 52 năm tù.
Nhân vật đang giờ được cả thế giới chú ý đến là Julian Assange, người Úc Châu, đang “ẩn trốn” ở phía Nam thành phố London, nước Anh, hay là ở đâu đó bên Âu Châu, hay một nước Trung Đông! Anh ta đã quyết định tung các tài liệu mật lên báo chí, sau khi coi kỹ. New York Times cho biết anh ta có xóa bỏ nhiều tên họ những người có thể bị nguy hại. Kết tội người ăn cắp tài liệu tương đối dễ, vì ăn cắp là có tội. Nhưng truy tố một người chỉ làm công việc phổ biến các tin tức bị ăn cắp thì khó. Vì các nước tự do dân chủ đều tôn trọng quyền tự do thông tin. Tại Mỹ đã có một án lệ: Năm 1971 Tối Cao Pháp Viện không cho phép chính phủ Nixon cấm tờ báo New York Times không được in các tài liệu mật lấy cắp từ Ngũ Giác Đài. Trong các tài liệu bị tiết lộ đó có những lời nói của nhiều nhà lãnh đạo nước Mỹ cho thấy họ biết và nói với nhau những điều mà họ không cho công chúng biết; có khi ra trước công chúng họ nói ngược lại, tức là nói dối. Nội dung các câu chuyện đó liên can đến chiến tranh ở Việt Nam. Từ đó trở đi, các chính phủ Mỹ không kiện cáo những người phổ biến các tin mật nữa, mà chỉ tìm cách đối phó khi tin bị tiết lộ. Một vụ gần đây nhất là những bức hình chụp cảnh tù nhân ở Iraq bị dọa tra tấn, năm 2004, do Joe Darby, một binh sĩ công bố.
Nhưng các tài liệu bị tiết lộ gần đây không tai hại cho chính phủ Mỹ nhiều như các vụ trên. Tháng 4 và tháng 7 vừa qua, WikiLeaks chỉ làm cho các chính phủ Mỹ và Anh bối rối khi tiết lộ những lầm lẫn trong các cuộc hành quân ở Iraq năm 2007 và ở Afghanistan. Còn trong đợt tin tức bị tiết lộ sau cùng với khoảng 400,000 điện thư này thì cũng không có gì thuộc loại “bí mật về an ninh quốc gia” cả. Phần lớn đó là những chuyện thì thầm nhỏ to trong giới ngoại giao. Thí dụ, Đại Sứ Mỹ Richard Hoagland tại Astana, thủ đô Kazakhstan báo cáo một nhân viên tòa đại sứ bắt gặp Thủ Tướng Karim Massimov nhẩy đầm say sưa trong một discotheque ở vào lúc quá nửa đêm.” Hay là một công chức ngoại giao Trung Quốc gọi lãnh tụ Bắc Hàn Kim Chính Nhật là một “đứa con nuông” khó dạy.
Nếu có người bị thiệt hại vì những tiết lộ mới này, đó là các viên chức là lãnh tụ các nước khác, khi các các nhân viên ngoại giao Mỹ vô tình báo cáo những lời họ được nghe các nhân vật này nói với họ. Thí dụ ông Tổng Thống Yemen Abdullah Saleh, nói với Tướng Mỹ Petraeus, chỉ huy quân đội Mỹ ở vùng Trung Đông, rằng ông sẽ tiếp tục nói dối về những vụ Mỹ ném bom vào các căn cứ quân khủng bố ở nước ông: “Tôi sẽ cứ nói đó là bom do chúng tôi ném, không phải do các anh ném!”
Tất nhiên, những người như Tổng Thống Saleh hay Thủ Tướng Massimov sẽ ngượng ngùng khi báo chí và dân chúng nước họ biết những việc họ làm hay những lời họ nói trong vòng bí mật. Nhưng rất “may mắn” là ở những quốc gia này, chính quyền vẫn nói dối quen rồi! Họ không chấp nhận cho báo chí tự do! Cho nên, việc Wikileaks tiết lộ các tin trên cuối cùng chẳng gây nên tai hại nào cho các “lãnh tụ anh minh” đó cả!
Qua những tài liệu bí mật bị lộ chúng ta thấy ở những lãnh tụ nói dối phần lớn là từ các nước độc tài, họ chuyên nói hai lối khác nhau, trước công chúng nói một cách, chuyện trò thân mật với các nhà ngoại giao Mỹ lại nói khác! Các chính quyền độc tài thường phải sống đạo đức giả, không thể nào sống khác được!
Không thấy các nhà ngoại giao Mỹ phạm tội nói trong chỗ riêng tư những lời trái ngược với những gì họ nói với các nhà báo hay điều trần trước quốc hội. Chỉ trừ những điện thư trong đó các nhân viên ngoại giao Mỹ báo cáo về các hành động dò thám của họ đối với nhân viên nhiều phái đoàn ở Liên Hiệp Quốc; kể cả ông tổng thư ký! Nhưng có nhà ngoại giao nước nào đến Liên Hiệp Quốc họp ở New York mà không biết trước mình sẽ bị mật thám Mỹ dò xét? Một điện thư tai hại do một nhà kinh doanh ở Afghanistan viết, ông ta báo cho chính phủ Mỹ những tin tức thu lượm được tại Iran. Nhưng “điệp viên” ngây thơ này ghi trong thư các chi tiết về nơi sinh, trường học cũ, địa chỉ gia đình, nơi buôn bán của anh ta trong thư. Tuy không ghi tên họ thật nhưng gián điệp Iran sẽ biết ngay anh ta là ai! Đây là một cơ hội cho anh được giải nghệ, và nước Mỹ đỡ phải trả công cho một điệp viên rất hớ hênh!
Một điều bị tiết lộ làm chính phủ Mỹ bối rối nhất có lẽ là những ý kiến của các chính quyền Á Rập ở Trung Đông nói riêng với người Mỹ, được các nhà ngoại giao này báo cáo về nước rồi bây giờ cả thế giới được nghe! Vua Á Rập Sau Đi bảo người Mỹ hãy “Cắt đầu cái con rắn” Iran đi! Tấn công hẳn vào Teheran đi! Thế rối lãnh đạo các nước Ai Cập, Jordan, các tiểu quốc vùng Vịnh, cũng nói như vậy cả!
Nhưng có thể gọi những ý kiến trên là mới lạ, đáng ngạc nhiên hay không? Thật ra chẳng có gì mới cả. Ai cũng biết các nước Á Rập ghét Iran. Đa số dân họ theo phái Sunni, còn 90% dân Iran theo phái Shia. Không những thế, Iran vẫn tiếp tế, yểm trợ cho những người Shia thiểu số trong các nước Á Rập để đòi hỏi các quyền lợi của họ. Nếu Iran có bom nguyên tử thì không phải chỉ Israel bị dọa mà các nước Á Rập mới lo!
Nếu mục đích của những người tiết lộ và đang tải các tài liệu này là chống Mỹ, thì họ lại làm cho chính quyền Mỹ trông có vẻ sạch sẽ, tử tế hơn các nhà ngoại giao nước khác! Giới ngoại giao Hoa Kỳ chỉ có tội là vẫn tiếp tục giao du với các chính quyền độc tài khắp thế giới! Tất nhiên, nếu các vị quốc vương hay tổng thống những xứ Á Rập đều thành thật, nếu họ cai trị dân theo lối minh bạch, công khai, thì tốt nhất. Nhưng nếu họ không sống như vậy, cứ thì thầm với các nhà ngoại giao Mỹ những điều họ không bao giờ nói trước đám đông, thì chính quyền Mỹ cũng phải chấp nhận!
Khi thành lập mạng Wikileaks, giấc mộng của Julian Assange rất lớn. Như anh ta viết năm 2007: “Mối quan tâm chính của chúng tôi là phơi bày sự thật về những chế độ độc tài áp bức tại Á Châu, khối Xô viết cũ, các nước Phi Châu vùng Sahara, và các nước Trung Đông...” Anh ta yêu cầu mọi người khắp thế giới hãy gửi cho Wikileaks những tài liệu mật để “phô bày những hành vi phi đạo đức của các chính phủ và các công ty thương mại.”
Nói vậy, nhưng trong mấy năm qua chưa thấy các người Á Châu hay Phi Châu giúp Assange. Không thấy tài liệu nào về việc khai thác bô xít hay cho Trung Quốc thuê rừng ở Việt Nam! Phần lớn Wikileaks chỉ nhận được các tài liệu mật từ nước Mỹ là đáng công bố! Anh Assange nói trước anh có những tài liệu mật về các ngân hàng lớn, sẽ được tiết lộ. Tin đó mới tung ra, giá cổ phần của một ngân hàng lớn ở Mỹ đã bị xuống giá!
Hiện nay Julian Assange đang bị chính phủ Thụy Điển nhờ Cảnh sát Quốc tế Interpol truy tầm, về một tội không liên can gì đến Wikileaks. Anh ta phủ nhận không hề phạm tội về tình dục như chính phủ Thụy Điển nói, nhưng có thể anh vẫn bị dẫn độ sang Thụy Điển để xét xử. Nhiều người nghĩ là Thụy Điển bày ra cái tội đó cốt để bắt giữ anh Assange, cho chính phủ Mỹ được nghỉ ngơi một thời gian, không lo một vụ tiết lộ các tài liệu mới. Nhưng điều này khó tin. Xưa nay nước Thụy Điển vẫn không yêu thích vai trò bá chủ của Mỹ, nếu có việc gì làm cho chính phủ Mỹ bối rối thì Thụy Điển chắc cũng không lo lắng giúp đỡ!
Trong khi chờ đợi chính phủ Mỹ phải chứng tỏ họ có phản ứng, đang làm “một cái gì đó” để ngăn cản anh Assange không cho tiếp tục. Có một việc chính phủ Mỹ có thể làm nhưng chưa chắc sẽ dám làm, là phá. Tại sao không dùng kỹ thuật tin học phá luôn cái mạng Wikileaks đi, không cho nó tác quái nữa?
Đối với một nước sống trong tự do dân chủ thì trả lời câu hỏi này không dễ dàng. Chính phủ Obama không thể làm như chính phủ Putin hay Hồ Cẩm Đào! Ông Putin đã dùng “quân xâm lăng tin học” tấn công làm tê liệt tất cả các mạng lưới ở Estonia năm 2007, làm cho các ngân hàng nước này tê liệt, dân chúng không rút được tiền từ máy ra nữa; các máy nhận thẻ tín dụng của cửa hàng không chạy nữa, những hợp đồng ký trên mạng lưới không thể áp dụng được nữa! Có thể nói cả nền kinh tế Estonia tê liệt trong một ngày, chỉ vì Nga muốn “trừng phạt” dân nước này đã đòi phá bức tượng “Hồng quân Giải phóng” nước họ! Năm 2008, ông Putin lại tái diễn đòn tấn công tin học đó đối với Georgia khi tấn công nước láng giềng này!
Nếu chính phủ Mỹ muốn “trừng phạt” Wikileaks và Assange thì phải dựng lên một thứ “Trường Thành Lửa” như chính quyền Trung Quốc đã và đang làm! Nhưng một chính quyền dân chủ tự do có muốn “nhúng tay vào bùn” như vậy hay không? Quốc Hội có cho phép hay không? Dư luận dân chúng có chấp nhận hay không? Cuối cùng, người Mỹ muốn chính quyền của họ tôn trọng các nguyên tắc dân chủ tự do nhiều hơn, hay là muốn bảo vệ uy tín các nhà ngoại giao và các lãnh tụ nước ngoài hơn?
Thiệt hại lớn nhất của nước Mỹ là trên mặt ngoại giao, từ nay các lãnh tụ thế giới không “nói thật” những ý nghĩ thầm kín của họ với các nhà ngoại giao Mỹ nữa. Nhiều thỏa ước ngoại giao chỉ ký kết sau khi người ta trao đổi những ý kiến không thể công bố được. Có những ý kiến nói ra sớm quá có thể khiến các cuộc hội đàm đổ vỡ. Giới ngoại giao Mỹ sẽ vất vả hơn khi sống trong cái nhà bốn chung quanh tường làm bằng kính, ai cũng nhìn qua được!
Nhưng người ta có cần phải nghe một phó bộ trưởng Ngoại Giao Trung Hoa gọi Kim Chính Nhật là “con nuông” mới biết chính quyền cộng sản ở Bắc Kinh nghĩ gì về đám tay sai ở các nước cộng sản nho nhỏ hay không? Nền ngoại giao Mỹ sẽ thay đổi sau biến cố này. Sẽ bớt những chuyện thì thầm, ngồi lê đôi mách. Như vậy thì tốt hơn hay là xấu hơn? Nếu biết rằng ở nước Mỹ không thể giấu dân chúng cái gì cả, thì nền ngoại giao Mỹ sẽ phải công khai, minh bạch hơn. Quan trọng nhất là trong việc giao thiệp giữa Mỹ và các chế độ độc tài trên thế giới. Chính phủ Mỹ sẽ không thể nói một đằng, làm một nẻo, miệng hô hào dân chủ tự do mà cứ tiếp tục nhắm mắt làm ngơ trước các hành động đàn áp dân chúng của các chế độ độc tài!

Bí mật về một loài độc trùng làm tê liệt tham vọng vũ khí hạt nhân của Iran (I)

Bí mật về một loài độc trùng làm tê liệt tham vọng vũ khí hạt nhân của Iran (I)


Ed BarnesNguyên Hân lược dịch
Nếu ở thế kỷ 20, thì đây hẳn sẽ là một công tác cho điệp viên 007 James Bond.Nhiệm vụ: Xâm nhập tổng hành dinh rất cao cấp của kẻ thù, được bảo vệ nghiêm ngặt, nơi những khoa học gia trong một mạng lưới qủy đang bí mật chế tạo một loại vũ khí có khả năng tiêu diệt cả thế giới. Ngay lúc đó, cài đặt món vũ khí tuồng như vô hại và “bấm nút biến” – không để cho ai hay cũng như không để lại bất kỳ dấu vết nào.

Nhưng ở thế kỷ thứ 21 này, điệp viên Bond không được triệu đến. Thay vào đó, một con độc trùng điện toán rất tinh vi, bí mật và tinh quái sẽ đảm nhiệm công tác này, đó là một mớ mật mã đan chằng chịt nhau được biết đến với tên Stuxnet, mới năm rồi không những làm cho chương trình hạt nhân của Iran bị tê liệt, nhưng còn đưa đến một lề lối suy nghĩ lại về sự an ninh của máy điện toán cho các chuyên gia trong lãnh vực này trên toàn thế giới.

Các sở tình báo, công ty chuyên lo an ninh cho máy điện toán và ngành kỹ nghệ hạt nhân đã và đang tiếp tục phân tích kể từ khi người ta phát hiện độc trùng này hôm tháng Sáu bởi một công ty có trụ sở ở Belarus và đang có dịch vụ làm ăn ở Iran. Và những gì mà các tổ sư trong giới tình báo, an ninh tìm thấy, nói như ông Sean McGurk, giám đốc truyền thông và an ninh mạng quốc gia của Bộ Nội An Hoa Kỳ, là một điều “thay đổi hẳn trò chơi hiện nay.”

Cách cấu trúc và xây dựng con độc trùng này rất cao cấp, “chẳng khác gì sự xuất hiện của chiến đấu cơ F-35 (NH: Loại chiến đấu cơ tối tân nhất của Hoa Kỳ hiện nay) ở chiến trường thời Đệ nhị Thế chiến,” Ralph Langner, một chuyên gia điện toán và là người đầu tiên đánh động sự cảnh giác về loại trùng Stuxnet này nói. Một số chuyên viên khác thì cho rằng đây là loại virus đầu tiên “được vũ trang hoá”.
Nói một cách đơn giản, Stuxnet là một loại trùng điện toán không thể phát hiện được, cực kỳ cao cấp đến mức không ngờ, mất cả hằng năm trời để tạo nên và loại trùng này được chế tạo nhằm nhảy từ máy vi tính này qua máy vi tính khác cho đến lúc trùng tìm được cái hệ thống kiểm soát đặc thù, đặc hiệu mà trùng được chế tạo để phá hủy: đó là chương trình làm giàu chất phóng xạ ở lò hạt nhân của Iran.

Mục tiêu này xem chừng không thể vượt qua được; vì những lý do an ninh, hệ thống điện toán của Iran nằm ở mấy tầng sâu dưới lòng đất và không nối vào mạng lưới World Wide Web toàn cầu. Và điều đó có nghĩa là con độc trùng Stuxnet này phải hoạt động như một loại hoả tiển đạn đạo bay không ngừng nghỉ trên những máy vi tính không nối với nhau, cứ mỗi một “chặng đời trên đường tạm dung”, trùng phải phát triển và thích nghi với những môi trường an ninh mới cùng những sự thay đổi khác cho đến lúc trùng Stuxnet có thể chui vào được một máy vi tính nào đó có khả năng đưa trùng lọt vào nhà máy hạt nhân của Iran.

Một khi trùng đã tìm được mục tiêu cuối cùng của mình, trùng sẽ thao tác một cách bí mật cho đến một lúc mục tiêu bị phá tan tành, và ngưng những chức năng bình thường.


Và cuối cùng, sau khi nhiệm vụ phá hoại hoàn thành, trùng sẽ tự hủy mà không để lại một dấu vết nào.


Đó là điều đã xảy ra ở những nhà máy hạt nhân của Iran (mà chúng tôi biết được) -- cả hai nhà máy này đều nằm ở Natanz, nơi chứa hằng ngàn máy ly tâm dùng để chế biến chất uranium thành nhiên liệu hạt nhân, và ở nhà máy với phạm vi ít quy mô hơn, là nhà máy chạy bằng năng lượng hạt nhân ở Bushehr, Iran.


Ở nhà máy Natanz, trong suốt một thời gian gần 17 tháng, trùng Stuxnet âm thầm tìm cách vào hệ thống điện toán ở đây và nhắm vào những mục đích rất đặc thù, đặc hiệu – đó là những máy biến đổi tần số của hãng Siemens, là một hãng sản xuất máy móc của Đức nhằm điều chỉnh tốc độ quay của máy ly tâm trong quy trình chế tạo nhiên liệu hạt nhân. Độc trùng này sẽ “cướp lấy” phần kiểm soát độ quay của máy ly tâm, làm cho máy bỗng quay nhanh hơn nhiều với mục đích làm hỏng quy trình sản xuất nhưng không phá máy. Cùng lúc, độc trùng này dấu đi sự thay đổi tốc độ quay trên bảng theo dõi và điều khiển (control panel) máy ly tâm, làm không ai nghi ngờ và phát hiện được chuyện gì đang xảy ra.


Cùng lúc ở nhà máy Bushehr, một số mật mã bí mật thứ hai mà ông Langner gọi là “đầu đạn kỹ thuật số” lại nhắm vào máy tua-bin lớn đồ sộ chạy bằng hơi nước ở một nhà máy phát điện do Nga xây.


Theo các chuyên gia nghiên cứu loại độc trùng này, trùng vận hành như sau:

 
- Nhà máy năng lượng hạt nhân ở Iran áp dụng một hệ thống an ninh gọi là “khoảng không”, có nghĩa là hệ thống điện toán của nhà máy không nối vào trang mạng toàn cầu (www), điều này làm cho nhà máy an toàn hơn, không sợ bị đột nhập từ bên ngoài. Độc trùng Stuxnet được chế tạo và gởi vào khu vực quanh nhà máy năng lượng hạt nhân Natanz của Iran -- bằng cách nào thì có lẽ sẽ không bao giờ biết được -- để gây nhiễm trùng một số máy vi tính ở đây với giả định là sẽ có người nào đó đang làm việc ở nhà máy sẽ đem việc về làm ở nhà bằng cách chuyển việc xuống ổ chứa dưới dạng USB, flash drive; để từ đó, những ổ cứng bên ngoài này sẽ nhiễm độc trùng Stuxnet đâu đó ở nhà và rồi sẽ được mang vào lại nhà máy hạt nhân.

- Một khi độc trùng này đã vào được trong nhà máy, bước kế tiếp là làm cho hệ thống điện toán ở nhà máy tin cậy mình … là loài vô hại và cuối cùng cho phép độc trùng này lọt hẳn vào trong hệ thống máy của nhà máy. Làm được điều này là nhờ độc trùng có chứa một “giấy chứng nhận số” đánh cắp từ hãng JMicron, là một công ty lớn nằm ở một khu kỹ nghệ tại Đài Loan. (Sau này khi độc trùng này bị khám phá, trùng đã nhanh chóng thay giấy chứng nhận số (digital certificate) ban đầu với một giấy chứng nhận khác, cũng được đánh cắp từ một hãng khác, Realtek, chỉ vài bước không xa từ hãng JMicron trong cùng khu kỹ nghệ ở Đài Loan.)


- Một khi được phép vào hệ thống điện toán, độc trùng này chứa bốn yếu tố gọi là “Zero Day” trong mục tiêu đầu tiên, là hệ điều hành Windows 7 mà qua đó, hệ điều hành này kiểm soát toàn bộ hoạt động của nhà máy. Những yếu tố Zero Day này vốn rất hiếm và rất có giá trị vì hệ thống điện toán qua lỗ hổng này có thể bị phá và chỉ phá được có một lần mà thôi. Hai trong những điểm nhược (lỗ hổng này) được ghi nhận và biết đến, nhưng hai điểm nhược kia, trong bốn điểm nhược của Zero Day này chưa bao giờ được phát hiện. Các chuyên gia cho rằng không có tay tin tặc nào mà chịu bỏ phí điểm nhược Zero Days này để phá cho nát hệ thống điện toán mà y đang đột nhập.


- Sau khi xuyên qua được hệ điều hành Windows 7, độc trùng này nhắm đến mục tiêu của nó là “máy biến đổi tần số”, một bộ phận kiểm soát sự hoạt động của máy ly tâm. Để làm được điều này, độc trùng dùng những đặc điểm kỹ thuật từ những công ty sản xuất bộ phận biến đổi tần số này. Một trong hai công ty này là Vacon, một công ty Phần Lan, và công ty kia là Fararo Paya, một công ty của Iran. Điều làm cho các chuyên gia vô cùng ngạc nhiên ở giai đoạn này là công ty Fararo Paya quá sức bí mật, ngay cả Sở Năng lượng Hạt nhân Quốc tế (IAEA) cũng không biết đến công ty này.


- Độc trùng này cũng biết cái hệ thống điều hành máy ly tâm này là một hệ thống kiểm soát phức tạp, được chế tạo bởi hãng Siemens, một công ty Đức và -- xuất sắc một cách ngoại hạng – độc trùng biết hệ thống điều hành này vận hành như thế nào, cũng như làm thế nào để dấu kín những hoạt động của trùng trong hệ thống kiểm soát tần số này để không bị phát hiện.


- Tự dấu mình không cho hệ thống an ninh của nhà máy cũng như những hệ thống an ninh khác phát hiện, độc trùng này ra lệnh cho những máy ly tâm quay cực kỳ nhanh, rồi bỗng ngừng đột ngột. Điều này làm hư bộ phận biến đổi, máy ly tâm và ổ bi của máy, cũng như làm hỏng chất uranium trong ống. Điều này cũng làm cho kỹ sư hạt nhân Iran lấy làm thắc mắc, gãi đầu gãi tai vì không biết chuyện gì đã xảy ra, bởi kiểm nghiệm bằng máy vi tính không cho thấy có dấu hiệu sai trái nào với hệ điều hành máy.

Chưa bao giờ Việt Nam bị hại bởi người láng giềng “hữu nghị” như từ 1979 đến nay

Chưa bao giờ Việt Nam bị hại bởi người láng giềng “hữu nghị” như từ 1979 đến nay

Nguyễn Trọng Vĩnh

 Việt Nam không hề khiêu khích và xâm phạm vào đất Trung Quốc. Thế mà năm 1979, Trung Quốc huy động hàng chục sư đoàn “dạy cho Việt Nam một bài học”, giết hại dân và tàn phá bốn tỉnh của Việt Nam; đánh chiếm cao điểm 1509 trong huyện Vị Xuyên – Hà Giang của chúng ta; năm 1988, đánh đắm tàu hải quân, giết hơn 70 chiến sĩ, sĩ quan và chiếm một số bãi đá ngầm trong quần đảo Trường Sa của chúng ta.

Trong đàm phán biên giới, họ ép ta làm ta mất một nửa thác Bản Giốc, dân ta cũng không được đặt chân đến Ải Nam quan nữa, tất cả ta mất hàng trăm km2 đất. Họ xóa hiệp định phân định ranh giới vịnh Bắc Bộ giữa hai Chính phủ Pháp – Thanh (do lịch sử để lại) đòi chia lại, ăn hơn của ta một phần hải phận.

Sau khi nêu ra phương châm 16 chữ và 4 tốt với lãnh đạo ta, họ đã nghiễm nhiên đứng được trên nóc nhà Đông Dương, vị trí chiến lược xung yếu của ta, khai thác Bốc-xít, di hậu họa cho hàng triệu đồng bào ta.

Các công ty của họ thuê rừng 50 năm để trồng cây bạch đàn, trước tiên là chặt cây phá rừng, tạo thêm nguyên nhân gây lũ lụt cho ta. Bạch đàn là cây ăn rất hại đất, hết hạn thuê, họ rút đi để lại cho ta hàng dãy hecta đất trống đồi trọc, vì không cây gì mọc được. Đây là một mưu kế rất thâm hiểm hại ta. Nguy hiểm hơn nữa là các công ty của họ thuê các khoảnh rừng trong đó ôm cả những đồi cao 600-700m tại các huyện Tràng Định, Bảo Lộc của Lạng Sơn và Tiên Yên của Quảng Ninh, có nơi chỉ cách biên giới Trung Quốc 700m. Họ phá rừng để trồng bạch đàn, phá rừng làm đường vào khu rừng họ thuê, họ làm đường xoáy trôn ốc lên đỉnh các đồi cao nói trên. 50 năm không ai kiểm soát được, họ có xây dựng công sự gì trên đỉnh các cao điểm ấy cũng không ai biết, liệu có để sau này sử dụng như cao điểm 1509 ở Vị Xuyên trước đây không?

Ngoài việc năm 1974, đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của ta, họ tự ý vẽ một cái “lưỡi bò” rất phi pháp bao chiếm gần hết biển Đông của Việt Nam, khoanh vùng cấm ngư dân ta vào đánh cá trong hải phận của mình, bắn chết, bắt ngư dân ta, tịch thu tài sản, ngư cụ, giam giữ, phạt tiền, dùng “tàu lạ” đâm chìm tàu cá của ngư dân ta.

Cậy có hải quân mạnh, tập trận diễu võ dương oai ở Biển Đông, uy hiếp ta, luôn tuyên bố sẽ “thu hồi” Tây Sa, là Trường Sa của Việt Nam, mà họ to mồm nhận xí là của họ.

Họ thuê dài hạn một đoạn bờ biển ở Đà Nẵng, nói là để xây dựng “khu vui chơi giải trí”, xây nhà máy điện nguyên tử chỉ cách biên giới tỉnh Quảng Ninh 60km, nếu rò rỉ phóng xạ thì bên ta mang họa.

Trên thượng nguồn sông Mê Kông, Trung Quốc xây một hệ thống đập trong đó có đập Tiểu Loan, chặn mất một khối nước vô cùng lớn. Nam Bộ của chúng ta ở cuối dòng sông, mùa khô đồng bằng sông Cửu Long sẽ thiếu nước, liệu còn nuôi được cá tra, cá basa nữa không? Có đủ nước tưới cho các vùng cây trái không? Vựa lúa Nam Bộ có bị ảnh hưởng không? Sông cạn, nước mặn sẽ dâng sâu vào nội địa, triều cường càng dữ, nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh liên quan sẽ sống ra sao? Trung Quốc chặn nguồn nước thượng lưu của một con sông quốc tế, thật là một kế hoạch ích kỷ, ác độc.

Họ trúng thầu một loạt nhà máy nhiệt điện và một số công trình, họ tự do đưa ồ ạt lao động của họ vào. Thế là, trên khắp đất nước ta, từ “nóc nhà Đông Dương”, từ rừng núi tới đồng bằng, đến ven biển đã có hàng vạn người Trung Quốc rải ra, có là mối nguy tiềm ẩn không?

Từ những tình hình trên, rõ ràng Việt Nam ta bị hại đủ đường, và bị o ép tứ phía. Vì đâu nên nỗi này? Nhân dân ta nghĩ gì?

Từ khác ý kiến đến bất đồng chính kiến

Từ khác ý kiến đến bất đồng chính kiến

Nguyễn Thanh Giang (danlambao)Sự ngông nghênh bất chấp dư luận xã hội, sự răn đe và thóa mạ láo xược của TBT Nông Đức Mạnh mà nhạc sỹ Tô Hải cho rằng nhắm vào hàng loạt lão thành cách mạng, kể cả bẩy cựu ủy viên Bộ Chính trị (trong bản kiến nghị đề nghị ông Nguyễn Minh Triết ở lại làm Tổng Bí thư),  kể cả Nguyễn Văn An … chứng tỏ không phải chúng tôi mà chính họ đang trở thành lực lượng đôi lập đối với ĐCSVN ( của đại đa số đảng viên ) và của nhân dân Việt Nam…
Trước bất kỳ vật thể, sự việc nào hầu như không bao giờ không có những nhìn nhận, những ý kiến khác nhau. Đến nỗi ai đó đã nói: “Khi người ta đồng ý với tôi, tôi luôn cảm thấy mình là người sai lầm”. Tuy nhiên, trước các vấn đề chính trị-xã hội, ý kiến khác biệt và bất đồng chính kiến là hai biều hiện khác nhau về chất. Tập hợp nhiều ý kiến hoặc nhiều người cùng thống nhất một ý kiến (như kiến nghị về Đường sắt Cao tốc, về Khai thác Bauxite Tây Nguyên với hàng vạn chữ ký chẳng hạn) nhiều khi không biểu hiện một chính kiến. Người hay phát biểu và phát biểu nhiều ý kiến khác biệt ( có thể rất gay gắt, rất quyết liệt ) không hẳn là nhà bất đồng chính kiến. Ý kiến (về các vấn đề chính trị-xã hội ) và chính kiến khác nhau ở cái tầm, ở bề sâu.
Ý kiến khác biệt dẫn đến phản kháng, chống đối. Bất đồng chính kiến dẫn đến đối lập.
Những ý kiến như điểm qua dưới đây có thể xem là biểu hiện bất đồng chính kiến:
“ Cái gọi là chủ nghĩa cộng sản đã là ảo tưởng rồi ”
“ Cần nhận thức lại chủ nghĩa xã hội, cần thay bằng một mô hình văn minh hơn ”
“ Phải nhằm vào cải cách chính trị chứ không chỉ kinh tế; cải cách thể chế chính trị thành một vấn đề bức xúc, không giải quyết thì không phát triển được. Phải xây dựng hiến pháp mới. Đã đến lúc phải đổi mới hệ thống chính trị, phải phân định rõ vai trò lãnh đạo của Đảng, chức năng của nhà nước. Quốc hội hiện chưa phải là cơ quan lập pháp ”
“ Văn kiện không phản ánh được cuộc sống. Đổi mới chính trị chưa theo kịp đòi hỏi, đang cản trở ”
“ Tại sao các văn kiện lại ngổn ngang thế? Cương lĩnh thất bại, tuyên truyền thất bại. Lý luận chính trị chưa bao giờ suy đồi như bây giờ. Ngổn ngang quá. Giả dối quá. Thật là bi kịch. Cảnh ngộ của Đảng ta từ sau Đại Hội X bắt đầu bước vào suy đồi ”
“ Cương lĩnh đầy dẫy cái sai, cái mơ hồ. Nói XHCN mà không biết nó là cái gì? Nhiều chuyện ta tự lừa dối mình và lừa dối người khác ”.
“ Toàn là giả dối cả. Nếu đưa cái cương lĩnh chiến lược này ra mà thông qua thì sẽ ra sao đây? Quả đấm thép không đấm vào đối thủ mà lại đấm ngay vào chính ta ”.
“ Nhận định về quốc tế, về các nước XHCN và tình hình đất nước sai, nên bỏ đi ”
“ Phải xác định cho rõ vai trò lãnh đạo của Đảng: lãnh đạo là ai? Ai cho anh quyền lãnh đạo? Phải nhìn thẳng vào sự thật. Lừa được người ta chứ không lừa được thực tiễn đâu ”
“ Xem thường lịch sử: nói CNXH là điều kiện để độc lập, các triều đại trước có CNXH đâu mà vẫn độc lập. Không gắn với thời đại, xem thường thiên hạ ”.
Những ý kiến trên là của các giáo sư, tiến sỹ và nhiều chúc sắc lớn của Đảng góp ý cho Dự thảo Cương lĩnh và các Văn kiện Đại hội XI tại Hội thảo ngày 9 tháng 11 năm 2010 do giáo sư Trần Phương, nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ chủ trì.
Ở Việt Nam chỉ những người như Nguyễn Hộ, Hà Sỹ Phu, Lê Hồng Hà, Trần Độ, Nguyễn Kiến Giang, Lữ Phương, Trần Huỳnh Duy Thức … được xem là những nhà bất đồng chính kiến.
Ông Võ văn Kiệt qua Thư gửi Bộ Chính trị ( mà vì nó Hà Sỹ Phu, Lê Hồng Hà đã vào tù chỉ vì chuyền tay đọc ) và những phát biểu lúc cuối đời của ông đã trở thành bất đồng chính kiến.
Ông Nguyễn Văn An nguyên ủy viên Bộ Chính trị, nguyên trưởng Ban Tổ chức TƯ Đảng, nguyên Chủ tịch Quốc hội qua những ý kiến trả lời phỏng vấn “ Tuần Việt Nam ” ngày 12 tháng 12 năm 2010 không thể không xem là bất đồng chính kiến có tầm cỡ.
Ông đã phủ định chủ nghĩa Mác, chống lại Cộng sản.
Tuyên ngôn ĐCS đưa ra một định chuẩn rạch ròi: “ Những người cộng sản có thể tóm tắt lý luận của mình thành một luận điểm duy nhất là: xoá bỏ chế độ tư hữu ”.
Ông Nguyễn Văn An phản bác: “ sở hữu nhà nước không phải là mục đích, mà chỉ là phương tiện trong giai đoạn nào, thời điểm nào, trong lĩnh vực cụ thể nào, vì lợi ích đích thực của nhân dân và của nhà nước chứ không phải vì mục đích tự thân ”.
Ông ca ngợi sở hữu tư nhân bằng những ngôn từ tuyệt đỉnh: “ Sở hữu tư nhân thực chất vẫn là vấn đề dân chủ tự do trên lĩnh vực kinh tế, trong mưu cầu hạnh phúc của mỗi người, nó là cội nguồn cảm hứng, là động lực to lớn cho sự phát triển. Kết quả của nó kỳ diệu như thế nào mọi người đã biết ”.
Ông khen vài điểm sáng trong đổi mới kinh tế để chê nó còn rất u minh: “ Từ chỗ chủ yếu có hai thành phần kinh tế đến chỗ có nhiều thành phần kinh tế. Từ chỗ đảng viên, công chức nhà nước không được làm kinh tế đến chỗ đảng viên, công chức nhà nước được làm kinh tế theo pháp luật. Từ chỗ đất đai là thuộc sở hữu nhà nước đến chỗ người sử dụng đất đai đã được 5 quyền như người chủ sở hữu, tuy còn có điểm rất mù mờ….”
Ông kêu gọi: “ Nếu nước ta khác về đời sống vật chất và tinh thần cao hơn, văn minh hơn, tức là chất lượng cuộc sống cao hơn, nhất là dân chủ tự do cao hơn thì đồng ý. Còn nước ta phải công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu để khác với các nước tư bản phát triển thì lại là vấn đề sai từ gốc. Rất nhiều ý kiến đề nghị bỏ đoạn này trong Dự thảo Văn kiện Đại hội XI ”.
Một số người nông cạn đổ hết tội Vinashin cho Chính phủ hoặc cho Thủ tướng hay các Bộ trưởng, Nguyễn Văn An tỉnh táo và thấu đáo hơn: “ Tôi cho rằng Vinashin vừa là hậu quả của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, vừa có căn nguyên sâu xa bắt nguồn từ lỗi của hệ thống, lỗi từ gốc, từ chủ trương của Ban Chấp hành Trung ương và của Bộ Chính trị xuất phát từ quan điểm rằng: xã hội xã hội chủ nghĩa phải được xây dựng dựa trên “… chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu”. Mô hình này lại xuất phát từ một lý thuyết cực đoan cho rằng: tư hữu về tư liệu sản xuất là nguồn gốc của mọi sự bóc lột ”.
“ Từ một lý thuyết cực đoan đi tới một mô hình kinh tế không có động lực mà thực tế cuộc sống đã bác bỏ. Chính phủ là người thực thi chủ trương đó của Đảng về mặt nhà nước. Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị có quyền lớn như vậy thì có phải chịu trách nhiệm gì không?”
“ Đành rằng phải có trách nhiệm cá nhân trong quản trị hành chính và quản trị doanh nghiệp, phải xem xét cẩn trọng, có lý, có tình, không tranh công, đổ lỗi. Song phải rất chú ý đi sâu làm rõ cái lỗi của hệ thống, do sai sót của hệ thống làm trầm trọng thêm ”.
Trước những thất bại hoặc gặp tình trạng lúng túng, thậm chí bó tay khi thực thi các chủ trương của Đảng và những nhiệm vụ lớn nhỏ của Nhà nước người ta thường đổ lỗi cho cơ chế, Nguyễn Văn An thì bảo là do lỗi hệ thống. Sự thực cả hai chẳng qua chỉ là cách nói trại một thuật ngữ đúng: chế độ chính trị. Chế độ chính trị lạc hậu, chế độ chính trị phản tiến hóa. Riêng Nguyễn Văn An nói trại nhưng ông truy nguyên đúng: “ Với thể chế như hiện nay ở Việt Nam thì mọi thành công hay thất bại đều bắt nguồn từ sự lãnh đạo của Đảng”.
Cho nên ông đòi hỏi: “ Cương lĩnh 2010 phải vượt qua cái khung cơ bản của Cương lĩnh 91 như dự thảo, để xây dựng một Cương lĩnh 2010 mới đáp ứng yêu cầu của Cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới, giai đoạn đổi mới toàn diện, triệt để, cả kinh tế và chính trị, tức là hoàn thiện ở mức độ cao hơn, mức độ sửa lỗi hệ thống.
Tôi mong muốn Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương, mong muốn Đại hội XI chọn …  khuynh hướng đổi mới tư duy toàn diện và triệt để, cả kinh tế và chính trị thì chúng ta mới khắc phục được lỗi hệ thống, vì chúng ta mắc lỗi hệ thống mà chúng ta chỉ chỉnh sửa theo khuynh hướng thứ nhất thì chúng ta không ra khỏi lỗi hệ thống được ”.
Cùng với cả dân tộc, ông rùng mình nhớ lại suốt một chặng dài lịch sử đi trong lầm lạc: “ Vấn đề chủ yếu của quản trị hành chính nhà nước là có chính sách kiểm soát, phân phối và phân phối lại lợi nhuận một cách hợp lý, chứ không phải là công hữu hóa tư liệu sản xuất chủ yếu. Do đó chúng ta phải dứt khoát từ bỏ lý thuyết và mô hình sai trái từ gốc này, vì hậu quả của nó gây ra như thế nào mọi người đều đã biết. Đó là con đường trở về thời kỳ thiếu thốn và đói khổ ”.
Sinh thời, lão tướng Trần Độ cũng đã từng kêu gào thảm thiết “ Định hướng XHCN là định hướng vào chỗ chết thì định hướng làm gì ! ” ( Thế mà rồi họ vẫn cứ “ định hướng ”. Hỏi có đáng cười ra nước mắt không ? ).
Ông không cực đoan nhất quyết đòi vứt Mác-Lênin vào sọt rác: “ Tôi đề nghị chúng ta vẫn giữ học thuyết Marx-Lenin, nhưng chúng ta không chỉ biết và vận dụng duy nhất học thuyết Marx-Lenin, mà cần phải biết và vận dụng những học thuyết tinh hoa của nhân loại như chúng ta bắt đầu làm từ khi đổi mới. Từ đó Đảng ta mới phát huy được dân chủ, tự do trong Đảng, trong nhà nước và trong xã hội ta. Vì chỉ có dân chủ tự do mới có thể có điều kiện thật sự cho sự phát triển vững mạnh, mới có sức mạnh vô địch để vượt qua mọi khó khăn thử thách, bảo vệ được thành quả của Cách mạng và không ngừng đưa Cách mạng Việt Nam tiến lên phía trước cùng với bạn bè năm châu bốn biển ”.
Thì các nước tư bản họ cũng làm như vậy đấy chứ. Họ vẫn nghiên cứu và giảng dạy chủ nghĩa Mác-Lênin ở các trường đại học.
“ Giữ học thuyết Marx – Lenin ”, theo Nguyễn văn An không phải để tôn sùng và mù quáng vâng theo mà có chăng chỉ để gạn đục khơi trong, để ôn cũ biết mới vì chính ông đã vạch tội cái học thuyết có phần quái gở, cái học thuyết “ rất xa lạ với những mô hình và lý thuyết phổ   quát ”, mà vì theo nó ta đã mắc nhiều lỗi hệ thống khốn khổ. Ông giải thích: “Lỗi hệ thống là lỗi từ gốc đến ngọn, từ lý thuyết đến mô hình và đã được cuộc sống kiểm nghiệm là chưa phù hợp với thời đại ngày nay. Lâu nay chúng ta thường mới nói tới cái lỗi của mô hình thôi ”.
Một số tôi đòi của Mác-Lênin ra sức bảo vệ tín chủ bằng cách giải thích sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa chẳng qua chỉ do nhận thức không đúng nên đã thiết lập nên các mô hình sai so với nguyên lý, ông khẳng định: “lỗi hệ thống rõ ràng nhất, cụ thể nhất, toàn diện và triệt để nhất chủ yếu là từ khi chúng ta chuyển từ Cách mạng dân tộc dân chủ sang Cách mạng xã hội chủ nghĩa theo mô hình của Cộng hòa Xô Viết … Mà mô hình của Cộng hòa Xô Viết thì lại bắt nguồn từ những lý thuyết của chủ nghĩa Marx-Lenin ”.
Một số người hoặc vì u mê, hoặc vô liêm sỉ ra sức nguy biện, dối trá quanh co, giải thích sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa là do các thế lực thù địch Phương Tây “ diễn biến hòa bình ”, Nguyễn Văn An khẳng định: “ Quan sát sự tan rã của một số Đảng cộng sản ở Liên Xô (cũ) và Đông Âu, thì thấy rằng, những người cộng sản phá Đảng không phải chỉ là những người cộng sản phản bội Đảng, những người cộng sản bị kẻ thù mua chuộc, bị diễn biến hòa bình,… Mà phần nhiều lại chính là những người cộng sản chân chính, những người cộng sản không muốn bảo vệ Đảng của mình nữa, vì thực tế Đảng của mình đã thoái hóa biến chất mất rồi, nhất là vì Đảng của mình đã phạm sai lầm có tính hệ thống mà không nhận ra được và không khắc phục được. Đảng đã trở thành lực lượng cản trợ dân chủ, tự do, cản trợ sự phát triển của xã hội. Đảng đã trở thành ông Vua tập thể, đã trở thành Đảng trị mất rồi ”.
Ông giải thích rõ hơn: “ Hãy thử quan sát và phân tích sự giải tán của một Đảng tại quê hương của Cách mạng tháng Mười thì rõ. Tại sao một người đứng đầu Đảng và Nhà nước tuyên bố giải tán Đảng là Đảng đó bị giải tán ngay? Một người có làm được việc đó không? Hay người đó chỉ là người thay mặt cho số đông những người trong Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương, trong toàn Đảng, trong cả hệ thống chính trị? Đội ngũ trí thức đâu? Liên minh giai cấp công nhân với nông dân và nhân dân lao động đâu? Hệ thống thông tấn, báo chí đâu? Lực lượng vũ trang hùng hậu đâu mà không bảo vệ Đảng? Tại sao họ quay mặt đi? Hay là họ cũng đồng tình? Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, tại sao quần chúng không bảo vệ?”.
Một số người khác do không nắm hiểu thực tế hoặc do hận thù quá sục sôi ra sức hô hào tấn công lật đổ ĐCSVN; tôi rất đồng ý với phán định này của Nguyễn Văn An: “ Không kẻ thù nào có thể phá được Đảng ta trừ chính những người cộng sản chúng ta ”.
( Tuy là một trong những người bầy tỏ sự bất bình đối với chủ trương đường lối sai lầm của ĐCSVN từ rất sớm, tôi chưa hề muốn tham gia hoặc thiết lập một tổ chức nào. Cho đến cách đây mấy năm, tôi có nhờ cụ Nguyễn Hộ bảo con gái cụ đưa tôi đến nhà ông Võ Văn Kiệt. Tiếc rằng bữa ấy ông Kiệt đi vắng. Ít lâu sau, tôi đang lập kế hoạch trở lại tiếp cận ông để đánh bạo đề nghị ông phục hoạt đảng Lao động Việt Nam với điều kiện tôi sẵn sàng phụ tá cho ông và nhận lãnh trách nhiệm phụ trách mảng ngoại vận. Song, đến khi tôi có quyết tâm rất cao và định lên đường thực hiện kế hoạch này thì hay tin ông đã đột ngột ra đi. Âu cũng là mệnh trời đối với dân tộc này, đất nước này ? ! ).
“ Chính những người cộng sản chân chính cũng muốn giải tán Đảng đã biến chất để xây dựng Đảng mới, để sửa lỗi hệ thống, để làm lại từ đầu ”.
Câu sấm này là nhận định thực tiễn ? hay là lời kêu gọi ? hay là hạ quyết tâm tự giao nhiệm vụ cho mình ? Phải chăng khí thiêng sông núi đang nhập vào Nguyễn Văn An ?.
Nguyễn Văn An cùng tuổi Bính Tý với tôi. Bính biến vi sư, Bính biến vi tù. Tôi đã từng là sư, cũng từng bị tù tội.
Nguyễn Văn An, qua một số bài viết và nói gần đây xứng đáng là sư phụ của Đảng.
Liệu có e ông sẽ phải nếm trải vế thứ hai của can Bính không?
Có lẽ không.
Những cái chết thê thảm của Lâm Bưu, Lưu Thiếu Kỳ, Triệu Tử Dương … liệu có nhắc nhở can gián ông không?
Không.
Trường hợp của ông khác. Những người vừa nêu tên so với Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình đều là bậc đàn em, ở tầm học trò. Đối với hàng ngũ lãnh đạo Đảng hiện nay, Nguyễn Văn An là bậc đàn anh, là bậc thầy. Thú tính của họ có cao hơn các nhà lãnh đạo kia bội bội phần thì họa chăng họ mới dám ra tay đao phủ để rồi sẽ bị trừng trị không bởi người thì cũng bởi trời. Vả chăng, nếu họ dám xử lý bậy bạ gì gì đi nữa thì rồi ông tất sẽ được nhân dân bù trì bằng sự tôn vinh như những bậc anh hùng khả kính, được lịch sử ghi nhận.
Sự ngông nghênh bất chấp dư luận xã hội, sự răn đe và thóa mạ láo xược của TBT Nông Đức Mạnh mà nhạc sỹ Tô Hải cho rằng nhắm vào hàng loạt lão thành cách mạng, kể cả bẩy cựu ủy viên Bộ Chính trị (trong bản kiến nghị đề nghị ông Nguyễn Minh Triết ở lại làm Tổng Bí thư),  kể cả Nguyễn Văn An … chứng tỏ không phải chúng tôi mà chính họ đang trở thành lực lượng đôi lập đối với ĐCSVN ( của đại đa số đảng viên ) và của nhân dân Việt Nam.
Không thể không bất đồng chính kiến với họ. Đối lập với cái đối lập đối với chính nghĩa là biểu hiện anh minh, là sứ mệnh thiêng liêng, là nghĩa vụ cao cả.
Hà Nội 1 tháng 1 năm 2011
Nguyễn Thanh Giang

Chủ Nhật, 2 tháng 1, 2011

Nhìn Lại Tình Hình Việt Nam Năm 2010

Nhìn Lại Tình Hình Việt Nam Năm 2010

Lý Thái Hùng


Ngày 29 tháng 12 năm 2010, ông Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng CSVN đã chủ tọa phiên họp chính phủ cuối năm để đánh giá tình hình hoạt động toàn năm 2010. Dựa trên báo cáo của các Bộ, ông Dũng cho rằng chính phủ của ông đã “hoàn thành những nhiệm vụ lớn” như giữ cho nền kinh tế không bị lạm phát cao, kinh tế vĩ mô ổn định, GDP tăng trưởng 6,78% cao hơn mức dự kiến 6,5%, sản xuất công nghiệp và nông nghiêp gia tăng đáng kể, cải cách giáo dục và y tế đạt kết quả cao, công tác phòng chống tham nhũng đạt kết quả tốt. Đặc biệt ông Dũng nhấn mạnh rằng chính phủ của ông ta đã “xuất sắc” trong vai trò chủ tịch khối ASEAN trong năm 2010, khiến cho thế giới thán phục và đánh giá cao.
Hãy gác qua một bên những tiêu cực đầy rẫy và trầm trọng trên đất nước, và xét xem hình ảnh “lạc quan” như ông Dũng đúc kết đến từ đâu:
Thứ nhất là CSVN đã phí phạm gần 84 ngàn tỷ đồng (tương đương 4,5 tỷ Mỹ Kim) cho cái gọi là mừng đại lễ kỷ niệm 1000 Thăng Long diễn ra vào đầu tháng 10 năm 2010 sau hơn 7 năm chuẩn bị.
Thứ hai là đã chi hàng chục triệu Mỹ Kim để “thù tiếp” các quan khách ngoại quốc trong những buổi tiếp tân ngoại giao nhân việc Hà Nội đứng ra triệu tập các Hội nghị cấp cao ASEAN trong suốt năm 2010, với tư cách là chủ tịch ASEAN.
Việc xài tiền một cách phung phí nói trên không những đã không làm cho thế giới thấy Việt Nam là quốc gia giàu có hay tiến bộ như ông Dũng vọng tưởng, mà còn làm thế giới cười chê mai mỉa đối với một tập đoàn lãnh đạo đã “vung tay quá trán” trong tình hình kinh tế suy thoái và sự nghèo khó nói chung của người dân. Ông Dũng và các Bộ đã không hề nhắc đến những dự án phá sản như nhà máy lọc dầu Dung Quất, Thủy Điện Sơn La, tình trạng bội chi ngân sách dẫn đến tiền vay nợ lên đến 56% GDP. Nhất là ông Dũng đã không hề nói đến đồng bạc Việt Nam đang bị tụt giá, khiến cho lòng tin của người dân vào đồng nội tệ bị giảm sút; người dân đổ xô lưu giữ đồng Mỹ Kim, tạo áp lực tăng giá đồng Mỹ Kim và gây bất lợi cho nền kinh tế một cách trầm trọng vì sẽ làm tăng giá nhập cảng hàng loạt với hệ lụy là lạm phát gia tăng phi mã và người dân nghèo lại càng thêm khốn khó.
Ông Nguyễn Tấn Dũng và Bộ Công thương cũng đã không nói thật về tình hình kinh tế Việt Nam hiện đang bị hàng hóa Trung Quốc khống chế như thế nào trên thị trường Việt Nam. Họ chỉ khoe chung chung rằng nhập siêu hàng hóa đã giảm 5% và bằng 17,3% kim ngạch xuất khẩu. Nhưng những con số báo cáo này không thấm gì với mức nhập siêu hàng hóa từ Trung Quốc là 65% trong năm 2010. Nói cách khác, thị trường Việt Nam hiện đang là sân sau tiêu thụ hàng hóa nhập từ Trung Quốc trong hơn 10 năm qua. Trong khi đó, vào cuối tháng 12 vừa qua, Công ty định mức tín nhiệm Standard & Poor’s Ratings Services vừa tuyên bố cắt giảm một bậc điểm tín nhiệm trái phiếu của CSVN, và còn khuyến cáo là có thể cắt giảm nữa nếu không có những biện pháp cải thiện về tình trạng lạm pháp, bội chi ngân sách và nhất là những số nợ tồn đọng chưa thanh toán của Tập đoàn Vinashin.
Bên cạnh những khó khăn nói trên, sự phá sản của tập đoàn Vinashin với 4,5 tỷ Mỹ Kim đã đặt cho CSVN một vấn đề mới rất nghiêm trọng. Đó là nếu không giải quyết rốt ráo vấn đề quản trị và tính hiệu quả của các tổng công ty mà CSVN cho thành lập từ năm 2000 trở đi, và các tập đoàn kinh tế được thành lập từ năm 2006 tới nay như là những cột trụ của nền kinh tế, thì toàn bộ nền kinh tế Việt Nam có thể bị sụp đổ sau hơn hai thập niên đổi mới.
Do đó, nhận định đầu tiên về tình hình Việt Nam trong năm 2010 chính là sự nổi bật những yếu kém của lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam về mặt kinh tế. Đương nhiên trách nhiệm này đổ ập lên đầu ông Nguyễn Tấn Dũng là người nắm trong tay thực quyền về chính trị lẫn kinh tế. Ông Nguyễn Tấn Dũng tuy chỉ là Thủ tướng đứng sau ông Nông Đức Mạnh, Tổng Bí Thư Đảng, nhưng trong thời buổi đảng phải mở cửa vận động đầu tư buôn bán hầu tìm phương tiện từ bên ngoài nuôi sống chế độ, quyền lực của Thủ Tướng theo sự phân nhiệm hiện nay của Bộ chính trị - nắm cả về đối ngoại lẫn kinh tế - đã trở thành một thế lực lớn ở trong đảng. Chính quyền lực vượt trội của Thủ tướng khiến ông Nguyễn Tấn Dũng đã thao túng toàn bộ, từ trong đến ngoài đảng, từ kinh tế đến chính trị và ngoại giao, và trở thành cái đích nhắm của các phe nhóm cũng như là nguyên uỷ của nhiều vấn đề trên đất nước. Có thể nói 2010 là năm ông Dũng bị các phe quyền lực khác tấn công nặng nề nhất.
Với một số những bối cảnh chung được lược duyệt nói trên, tình hình Việt Nam năm 2010 có bốn sự kiện lớn sau đây đáng cho chúng ta quan tâm.
Thứ nhất là vụ phá sản Tập đoàn đóng tàu Vinashin với sự vỡ nợ 4,5 Tỷ Mỹ Kim, đã là một biến sự tạo một chấn động rất lớn trong năm 2010. Một quốc gia với Tổng sản lượng (GDP) chỉ có gần 100 tỷ Mỹ Kim một năm mà lại để cho một tập đoàn kinh tế phá sản lên đến gần 5 tỷ Mỹ Kim (5% GDP), và chỉ có 5 người mới đang…. bị điều tra là điều không thể tưởng tượng. Ngoài ra, khi một số đại biểu yêu cầu quốc hội biểu quyết về sự tín nhiệm vai trò Thủ tướng và một số cán bộ thừa hành trách nhiệm vụ Vinashin thì Bộ chính trị đã ra lệnh cho Ủy ban thường vụ Quốc hội phải lên tiếng bác bỏ yêu cầu này vì cho là không cần thiết. Thay vào đó, ông Dũng trong cương vị của người trực tiếp chỉ đạo Vinashin chỉ lên tiếng nhận trách nhiệm sai sót quản lý rồi thôi.
Ở những quốc gia dân chủ, ông Nguyễn Tấn Dũng đã phải từ chức và tất cả những cán bộ điều hành Vianshin phải vào tù và bị niêm phong tài sản kể cả của ông Dũng. Thế nhưng ở Việt Nam thì ngược lại: chính những Tổng biên tập của ba tờ báo phanh phui vụ phá sản Vinashin lại bị cách chức hay bị cảnh cáo. Rõ ràng là sự phá sản của Vinashin đã cho dư luận nhìn thấy rõ cấp lãnh đạo CSVN đã bao che và ăn chia tài sản quốc gia ở mức không cần phải che dấu nữa.
Thứ hai là CSVN đã chi 84 ngàn tỷ đồng, tương đương với 5 tỷ Mỹ Kim để tổ chức Lễ Hội Kỷ Niệm 1000 Năm Thăng Long, mang nội dung thần phục Bắc Phương. Đây có thể coi là một công trình chuẩn bị công phu nhất, tốn kém nhất kéo dài trong gần 8 năm; nhưng lại là công trình vô bổ nhất và bộc lộ ý đồ thuần phục Bắc Kinh rõ rệt nhất. Mặc dù CSVN đã cho bộ máy tuyên truyền nói ra rả từ một năm trước đó là họ sẽ dựng lại hào khí dân tộc thời Nhà Lý của Thế Kỷ 14 trên đất Hà Nội để cho thế giới chiêm ngưỡng, nhưng những công trình phô diễn chỉ mang tính bôi bác, chưa khánh thành đã suy sụp, hư hỏng, và phản bội lại lịch sử hào hùng của cha ông. Trong cuốn phim ghi lại một giai đoạn lịch sử của Lý Thái Tổ, tất cả những quần áo, phong cảnh đều là của Tàu, khiến dư luận rất phẫn nộ và Hà Nội đã phải ra lệnh cấm chiếu.
Đặc biệt là CSVN lại chọn ngày 1 tháng 10 làm ngày khai mạc Lễ Hội trùng với ngày quốc khánh Trung Quốc và chọn ngày 10 tháng 10 làm ngày bế mạc Lễ Hội trùng với ngày quốc khánh Đài Loan. Dù CSVN có giải thích cách nào đi nữa, việc chọn ngày khai mạc và bế mạc của một đại lễ mang tính chất sĩ diện của dân tộc lại trùng hợp vào ngày vui của quốc gia từng xâm lược nước ta là một hành vi sỉ nhục tổ quốc không thể chấp nhận được. Chính trong bối cảnh thuần phục Bắc Kinh như vậy, phong trào vẽ sáu chữ vàng HS.TS.VN đã xuất hiện tại nhiều thành phố ở khắp ba miền đất nước đã tạo sự chú ý trong dư luận.
Đặc biệt vào ngày 9 tháng 10, cao điểm của Lễ Hội 1000 Năm Thăng Long, các đảng viên đảng Việt Tân đã xuất hiện tại công viên Lý Thái Tổ, trung tâm thủ đô Hà Nội để phát áo mũ “Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam”, công bố bản lên tiếng kêu gọi chống hiểm họa Bắc Thuộc, đồng thời giương biểu ngữ “Vì Thăng Long Ngàn Tuổi, Chống Hiểm Họa Bắc Triều”. Hành động nói trên của các đảng viên Việt Tân đã xiển dương tinh thần bất khuất của dân tộc Việt Nam, cương quyết bảo vệ bờ cõi và không chấp nhận bất cứ hành vi xâm lược nào của Bắc Phương.
Thứ ba là vụ Quốc hội CSVN đã bỏ phiếu bác bỏ dự án xây dựng con đường sắt cao tốc Bắc Nam với chi phí lên đến 54 tỷ Mỹ Kim do Nhật cho vay và giúp đỡ kỹ thuật xây dựng. Nhật Bản giúp cho CSVN xây dựng vì muốn tìm công ăn việc làm cho những công ty Nhật theo nguyên tắc của ODA. Trong khi đó những cán bộ cao cấp của CSVN cổ võ cho dự án này với hai mục tiêu: bề ngoài thì họ muốn tạo một “thành quả” nào đó khả dĩ có thể khoe là chế độ có khả năng xây dựng và phát triển Việt Nam sau 2 thập niên đổi mới, nhưng thực chất chỉ là một kế sách bòn rút tài nguyên quốc gia của những cán bộ trong guồng máy chính quyền Nguyễn Tấn Dũng.
Nhiều chuyên gia và học giả nghiên cứu cho thấy là với tình trạng kinh tế èo uột, đời sống người dân còn quá khốn khó, người sử dụng đường Shikansen (tên gọi đường sắt cao tốc theo Tiếng Nhật) không là bao nhiêu nên chắc chắn sẽ bị lỗ và trở thành xa xí phẩm. Quốc hội CSVN đã bị tách làm 2 khuynh hướng khi bỏ phiếu biểu quyết. Đa số thì bỏ phiếu bác bỏ dự án, cho rằng cần dành ngân khoản xây dựng này cho người dân nghèo. Sự bác bỏ xây dựng đường sắt cao tốc Bắc Nam của quốc hội CVSVN cho thấy là chính trong nội bộ CSVN đã và đang có một khuynh hướng “bất tuân phục” các chỉ thị từ đảng hay từ cơ chế cao hơn mà không có tính thuyết phục.
Thứ tư là lời tuyên bố trở lại Biển Đông sau một thời gian dài bận đối phó cuộc chiến tại Á Phú Hãn và Iraq của Ngoại Trưởng Hoa Kỳ đã tạo những biến chuyển mới tại vùng Á Châu Thái Bình Dương. Tại Hội nghị an ninh khu vực hôm 23 tháng 7 năm 2010, bà Hillary Clinton đã đặt cả Trung Quốc lẫn các nước trong khối ASEAN vào một sự kiện bất ngờ, khi bà tuyên bố rằng Hoa Kỳ đề nghị quốc tế hóa các tranh chấp trên biển Đông, đồng thời coi vấn đề di chuyển trên biển Đông là một sự hợp tác chung không thuộc lãnh hải của bất cứ quốc gia nào. Sự tuyên bố cứng rắn về thái độ của Hoa Kỳ trên biển Đông không những làm cho Trung Quốc tức giận và tạo ra sự căng thẳng giữa hai nước mà còn làm thay đổi mối quan hệ giữa CSVN với Hoa Kỳ và giữa ASEAN với Trung Quốc.
Trong việc trở lại Biển Đông, đối tượng mà Hoa Kỳ tranh thủ chính là CSVN hơn là ASEAN; ngược lại CSVN cũng nhìn thấy Hoa Kỳ là chỗ dựa cần thiết để kềm chế sự bành trướng của Trung Quốc, mặc dù Hà Nội không muốn tạo thế đối đầu với Bắc Kinh. Theo đánh giá của ông Lê Công Phụng, đại sứ CSVN tại Hoa Kỳ trong một trả lời phỏng vấn gần đây cho rằng quan hệ chiến lược giữa Hà Nội và Hoa Thịnh Đốn sẽ tiến mạnh hơn nữa trong năm 2011. Hiện chưa có thể thẩm định mối quan hệ chiến lược giữa CSVN và Hoa Kỳ sẽ diễn ra như thế nào, nhất là những quan hệ về quân sự; nhưng có một điều ai cũng thấy là lãnh đạo Hà Nội rất sợ đòn “diễn biến hòa bình” của Hoa Kỳ. Do đó, tuy mở rộng thêm quan hệ với Mỹ, nhưng CSVN sẽ tiếp tục nằm trong vòng kềm chế của Trung Quốc.
Ngoài một số sự kiện nổi bật đề cập bên trên, trong năm 2010 còn có một biến cố đáng chú ý như cuộc tụ họp tự phát của hàng ngàn người dân Bắc Giang từ các quận xã kéo về trước Ủy ban nhân dân Tỉnh phản đối vụ công an đã đánh chết một thanh niên trong lúc điều tra vào tháng 8 năm 2010. Vụ Luật sư Cù Huy Hà Vũ bị công an CSVN dàn dựng bắt giữ hôm mồng 4 tháng 11, từ tội “chơi gái” sang tội “tuyên truyền chống phá chế độ”. Vụ Tướng Vũ Hải Triều khoe khoang là đã chỉ thị cho lực công an mạng ngăn chận, phá hoại các trang Blog, Facebook, và một số trang web có nội dung chống chế độ Hà Nội và liền sau đó là hàng loạt các trang Web như Việt Tân, Đàn Chim Việt, Thông Luận, Người Việt, Đối Thoại… đã bị tấn công bằng DOS (Denial of Service Attack) liên tục. Vụ một số cựu đảng viên cán bộ về hưu của đảng CSVN cảnh báo về việc 10 tỉnh như Lạng Sơn, Cao Bằng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định… đã cho Trung Quốc thuê rừng đầu nguồn một cách dài hạn để nuôi trồng cây công nghiệp, một hình thức bán đất cho Trung Quốc.
Tóm lại, tình hình năm 2010 đã để lại hai dấu ấn đáng chú ý:
Thứ nhất là sau 20 năm mở cửa kinh tế, quyền lực chính trị đang chuyển từ “bộ máy đảng” sang các “bộ phận trực thuộc” như chính phủ, quốc hội. Sự lên tiếng phê phán hay bác bỏ của Quốc Hội đã cho thấy là đảng CSVN không còn khả năng kềm chế nó như trước; đồng thời vị trí của người nắm giữ trách vụ Thủ Tướng đang lấn dần quyền hạn mang tính “thống lĩnh” trước đây của vị trí Tổng Bí Thư đảng về đối ngoại, kinh tế, hành chánh. Hệ quả rõ rệt là những đấu đá trong nội bộ đảng do tình trạng “trâu buộc ghét trâu ăn”, phe thân Mỹ chống phe thân Tàu, phe miền Bắc chống phe miền Nam… sẽ càng ngày càng thêm trầm trọng.
Thứ hai là người dân Việt Nam đã vượt qua sự sợ hãi để chủ động đứng lên tranh đấu: tụ họp chống bất công, tham nhũng; đòi nhà đất, tài sản bị cướp; đình công hàng loạt để chống bóc lột; xuống đường đòi tự do tôn giáo; lên tiếng vạch trần những sai trái; đưa những thành phần ác ôn ra công lý… Đồng thời qua Lễ Hội Ngàn Năm Thăng Long, người dân càng nhìn thấy rõ chân tướng tay sai Bắc Kinh của tập đoàn lãnh đạo CSVN.
Hai dấu ấn nói trên vừa là những thuận lợi vừa nói lên sự lớn mạnh của Phong Trào Dân Chủ Việt Nam với những bước tiến mới trong năm 2011, đặc biệt trong tình hình của đảng CSVN sau Đại hội XI, sẽ ngày một suy yếu và lúng túng đối phó với nhiều vấn đề xảy ra trong chính nội bộ đảng và bên ngoài xã hội.
Lý Thái Hùng
31/12/2010