Thứ Năm, 19 tháng 1, 2012

Vụ Tiên Lãng - sự bùng nổ của mâu thuẫn

Thanh Quang, phóng viên RFA
2012-01-17
Qua Sớ Táo Quân của Ban Việt Ngữ Đài ACTD nhân dịp sắp bước sang Tân Niên Nhâm Thìn, quý Thần Táo trình tấu Ngọc Hoàng lắm cảnh nhiễu nhương ở trần thế VN, và chắc chắn không quên “biến cố Tiên Lãng”.

Photo courtesy of phapluat.com
Lực lượng cưỡng chế thu hồi đất nhà anh Vươn hôm 05/1/2012
Thần “Táo Anh” tâu rằng:
Cướp đất cướp đai
Cướp đầm, cướp của
Tiên Lãng một thủa
Bão biển xoá cào
Người dựng đê bao
Ngăn làn sóng dữ
Bao năm công sức
Một khắc trắng tay
Bởi luật đất đai
Làm giàu (cho) quyền thế

Blogger Trần Trương cũng trích dẫn mấy vần thơ:
Ôi, Hải Phòng thành phố tai ương
Ta đau xót vì quan Tiên Lãng

để viết bài tựa đề “Dân tiến bộ hơn quan”, lưu ý rằng “vụ cưỡng chế đất của nông dân bằng những quyết định sai trái của chủ tịch huyện Tiên lãng, Hải Phòng, vẫn đang nóng lên từng ngày trong dư luận xã hội.
Khi viết bài “Lý lẽ của một tên cường hào mới”, tác giả Lương Kháu Lão “bỗng nhớ lời răn dạy của cha ông xưa” rằng:
Con ơi nhớ lấy câu này
Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan

với đoạn mở đầu như sau:
Tôi thấy phẫn nộ khi phải chứng kiến cảnh các anh công an tuổiđời còn rất trẻ, hùng hổ xô đẩy, lôi kéo những cụ già đáng tuổi bà, tuổi mẹ mình.
Blogger Mẹ Nấm
"Rất nhiều người chúng ta, trong đó có các bạn trẻ, các thế hệ học sinh chỉ được biết sơ sơ khái niệm “địa chủ cường hào ác bá”qua sách vở, qua phim ảnh. Tôi sinh ra trong thế kỷ 20 cũng chỉ biết như vậy thôi. Đại loại đó là thành phần giai cấp “ngồi mát ăn bát vàng, tước đoạt ruộng đất của nông dân bằng mọi thủ đoạn đen tối và tàn ác, đẩy họ vào hoàn cảnh bần cùng…” vì thế Đảng Lao động Việt Nam trước đây tức Đảng Cộng sản Việt Nam hôm nay phát động quần chúng “trí phú địa hào, đào tận gốc, trốc tận rễ” rồi “tiến hành cách mạng thổ địa, tiêu diệt giai cấp địa chủ phong kiến” khiến bao nhiêu người chết oan trong cải cách ruộng đất…

Ấy vậy mà từ khi hoàn thành cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, làm cách mạng xã hội chủ nghĩa đã hơn ba chục năm, hòa đồng cùng thế giới bước vào thế kỉ thứ 21 đầy hứng khởi, nhân dân Việt Nam từng tự hào là “anh hùng trong đấu tranh và xây dựng”, là “tiền đồn của phe xã hội chủ nghĩa”, là “tấm gương cho các dân tộc bị áp bức và bóc lột noi theo” đã xuất hiện nguy cơ trở lại thời kỳ bị phong kiến đế quốc đô hộ cách đây hàng trăm năm, thậm chí hàng ngàn năm."

Người dân đã quá bất mãn...

Blogger Mẹ Nấm không khỏi liên tưởng tới trường hợp chị Dậu ở thế kỷ 21 khi nhìn “cảnh cùng quẫn của gia đình anh Vươn – nạn nhân chính của biến cố Tiên Lãng. Theo blogger Mẹ Nấm thì người nông dân đương nhiên phản ứng khi họ bị cướp mất cái ăn, cái mặc, dù phản ứng đó theo kiểu “một mạng đổi một hay nhiều mạng”. Blogger Mẹ Nấm không khỏi xót xa:

1326334767.img-250.jpg
Chị Thương, vợ anh Vươn và chị Hiền, vợ anh Qúy. Photo courtesy of phapluat
"Là người đã chứng kiến nhiều cuộc cưỡng chế, tôi thấy mình đau đớn và bất lực trước đôi mắt thất thần của các cụ già cả đời cống hiến cho cách mạng, những người mẹ Việt Nam có chồng, con là liệt sỹ, trước những đứa trẻ vừa khóc vừa nhặt sách vở vương vãi, trước những người đàn ông lặng lẽ ngồi nhìn cảnh đổ nát với đôi mắt đỏ đục, trước những người đàn bà vật vã khóc than."
Nhưng rồi tác giả phẫn nộ:
"Tôi thấy phẫn nộ khi phải chứng kiến cảnh các anh công an tuổi đời còn rất trẻ, hùng hổ xô đẩy, lôi kéo những cụ già đáng tuổi bà, tuổi mẹ mình. Đã lặng người đi khi đứng trước cảnh tan cửa nát nhà của nhiều gia đình có công với cách mạng, có cống hiến cho chế độ và kẻ mang danh đi cướp ngày đó chính là lực lượng bảo vệ nhân dân.…
Tôi cũng đã từng nghe những câu quát nạt, và chứng kiến thái độ thật hung hãn của lực lượng tham gia cưỡng chế. Và tôi tự đặt ra câu hỏi, sau mỗi lần hoàn thành nhiệm vụ như thế, những con người đó nghĩ gì? Có giây phút nào họ thấy trăn trở trước những đau đớn, mất mát kia không? Có lẽ họ chỉ còn cái xác nói được tiếng người…
Nhân dân đã trao quyền lực vào tay quân đội và công an, với niềm tin là lực lượng này sẽ hoàn thành sứ mạng với dân tộc, đảm bảo kỷ cương trật tự xã hội, theo đúng chức năng và nhiệm vụ của ngành, không phải để chứng kiến lực lượng này quay ngược mũi súng vào nhân dân như hôm nay."
Qua bài “Biện pháp hại dân”, nhà văn Nguyễn Quang Lập “gầm lên” vì càng thấy rõ những biện pháp bất chấp pháp lý và đạo lý của quan quân Tiên Lãng hành hạ vợ con, em dâu anh Đoàn Văn Vươn, vừa xích, đánh đập họ khi dẫn đi dọc đường, “đi đến đâu là đánh đến đấy”, “chửi câu nào là dùi cui ghè vào mồm câu ấy”, như chính chị Nguyễn Thị Thương – vợ anh Vươn – kể lại:
"Họ đánh rất là đau. Họ dùng những gậy sắt họ đánh vào chân, vào đầu, vào bụng. Họ thúc vào bụng. Em kêu là đang có bầu thế nhưng mà họ vẫn cứ đánh. Họ đánh ở ngoài đường, trước tất cả mọi người chứng kiến".
Nhà văn Nguyễn Quang Lập trích dẫn lời GS Ngô Bảo Châu cho rằng “ Muốn làm mất thể diện của chính quyền thì cũng không thể làm tốt hơn mấy ông này”, và khẳng định rằng “ Các biện pháp hại dân của quan quân ông Chủ tịch huyện còn tàn bạo hơn các biện pháp hại dân thời ‘Tắt đèn’ của Ngô Tất Tố và ‘Bước đường cùng’ của Nguyễn Công Hoan”.
Qua bài “Vì sao súng nổ ở Cống Rộc”, blogger J.B. Nguyễn Hữu Vinh cho biết sau khi đọc kỹ đơn của anh Đoàn Văn Vươn kêu cứu đến Chủ tịch UBND TP Hải Phòng cùng những văn bản, quyết định của Toà án NDTP Hải Phòng, của UBND huyện Tiên Lãng, tác giả mới thấy được “âm mưu, sự tráo trở cũng như sự lộng hành của bọn cường hào ác bá mới tại đây”. J.B. Nguyễn Hữu Vinh cho biết:
"Cũng qua đó, chúng tôi hiểu được nỗi đau đớn, bức xúc và tinh thần của người dân chân chất nơi đây đã từng tin tưởng vào hệ thống chính trị hiện tại. Và như một cô gái trọn tình chung thủy, khi bị phụ tình và tráo trở trắng trợn đã bị dồn đến bước đường cùng liều lĩnh."
Người dân thực sự không thể nào hiểu được tại sao Tòa án Nhân dân lại che chở và bênh vực cho cán bộ, công an thay vì bênh vực lẽ phải, bênh vực người dân thấp cổ bé họng.
Blogger Cánh Cò
Theo blogger Cánh Cò, một khi người dân bị đẩy vào bước đường cùng để phải chống lại lực lượng cưỡng chế thì đó là lúc giới cầm quyền phải xem xét lại hệ thống của chính mình. Blogger Cánh Cò nhận xét:
"Sự bất ổn của hệ thống làm người dân phản kháng chứ không phải sự phản kháng của họ gây bất ổn cho xã hội. Vụ Đoàn Văn Vươn rồi sẽ là vụ án kinh điển trong lịch sử đương đại khi các nhà viết sử muốn làm một luận chứng về sự sụp đổ của một nhà nước vốn đi lên bằng những vụ việc tương tự như những năm đầu của thế kỷ 20.
Đó là mặt trái và cũng là hậu quả của luật sở hữu đất đai. Riêng về việc tuân thủ luật pháp của các công bộc nhà nước thì sao, đặc biệt là các tòa án Nhân dân các cấp? Người dân thực sự không thể nào hiểu được tại sao Tòa án Nhân dân lại che chở và bênh vực cho cán bộ, công an thay vì bênh vực lẽ phải, bênh vực người dân thấp cổ bé họng."

... dẫn đến bùng nổ

Qua bài “Âm vang tiếng súng Đoàn Văn Vươn”, tác giả Phạm Đình Trọng nhận xét rằng dù không cầm súng bắn, nhưng Đoàn Văn Vươn không những tiêu biểu cho ý chí lấn biển, mở mang bờ cõi, mở mang đất sống cho gia đình, cho quê hương, đất nước, mà còn tiêu biểu cho ý chí phản kháng hành động giới cầm quyền thu hồi, cưỡng chiếm, cướp trắng thành quả hàng chục năm trời lao động bằng mồ hôi, nước mắt và cả máu của người dân.

giaoduc.net-250.jpg
Nhà ông Đoàn Văn Vươn không nằm trong diện tích cưỡng chế nhưng đã bị phá. Photo courtesy of giaoduc.net
Vẫn theo tác giả, “Tiếng súng Đoàn Văn Vươn là sự bùng nổ của mâu thuẫn đang chứa chất ở nhiều nơi trong xã hội ta hôm nay, mâu thuẫn giữa người nông dân lao động sáng tạo trên mảnh đất mồ hôi xương máu của họ với hệ thống quyền lực nhân danh Nhà nước quản lý mảnh đất đó”. Tác giả Phạm Đình Trọng nhận xét:
"Những người nổ súng vào quyền lực Nhà nước sẽ bị pháp luật Nhà nước xét xử. Nhưng tiếng súng phản kháng quyền lực Nhà nước chỉ là cái ngọn. Cái gốc là luật đất đai đã tước đoạt quyền làm chủ của người nông dân trên mảnh đất của chính họ. Cái gốc là sự tha hóa, sự xa dân đến mức đối lập lợi ích với dân, sự lợi dụng quyền đại diện Nhà nước quản lý đất đai nhưng ứng xử với đất đai không vì lợi ích Nhà nước, không vì lợi ích toàn dân mà chỉ vì lợi ích của cá nhân và phe nhóm.
Sự tha hóa của quan chức đại diện Nhà nước quản lý đất đai đã xuất hiện ở mọi miền đất nước tạo nên dòng người dân mất đất cầm đơn đi khiếu kiện nối dài trong thời gian. Nhưng sự tha hóa của quan chức trong quản lý đất đai như được dung túng. Chưa có nỗi oan khuất mất đất đai của dân nào được giải quyết thỏa đáng, chưa có sự tha hóa nào của quan chức trong quản lý đất đai được nghiêm trị và sự tha hóa cứ lan rộng, kéo dài."
Blogger Huỳnh Ngọc Chênh lưu ý tới “Bom nổ, lỗi hệ thống và chỉnh đảng”, nhận xét rằng “Ngay sau khi ông Nguyễn Phú Trọng phát động đợt chỉnh đốn trong toàn Đảng từ trên cao xuống đến cơ sở vì sự sống còn của Đảng thì quả bom Đoàn Văn Vươn phát nổ làm rúng động dư luận”. Nhà báo Huỳnh Ngọc Chênh phân tích:
"Quả bom ấy là sự phản ứng tuyệt vọng của một người nông dân chân chất hiền lành bị đẩy đến bước đường cùng bởi những sai lầm của hàng loạt cơ quan chức năng cộng với lòng tham của bọn cường hào mới, đang nhanh chóng sinh sôi ra từ những lỗ hổng của cơ chế.
Trong trường hợp này là lỗ hổng của cơ chế về quản lý đất đai. Sự không rõ ràng về quyền sỡ hữu đất đai đã làm cho các cấp chính quyền địa phương vận dụng một cách tùy tiện vào việc quản lý, giao và thu hồi đất. Từ đó kích thích sự phát triển lòng tham của một số vị quan chức, đẩy dần họ vào vòng tay của một nhóm lợi ích để rồi họ tự diễn biến thành một tầng lớp cường hào mới. Hệ quả: Người nông dân bị tước đoạt đất đai một cách tàn nhẫn."
Quả bom ấy là sự phản ứng tuyệt vọng của một người nông dân chân chất hiền lành bị đẩy đến bước đường cùng bởi những sai lầm của hàng loạt cơquan chức năng cộng với lòng tham của bọn cường hào mới...
Nhà báo Huỳnh Ngọc Chênh
Tác giả trích dẫn lời nhà báo Huy Đức cho rằng nếu VN công nhận quyền sở hữu đất đai, thì một cách công khai, nỗ lực lấn biển của gia đình anh Đoàn Văn Vươn phải được coi như một hình thức thụ đắc ruộng đất mà ông cha ta đã áp dụng tự ngàn xưa để con cháu VN ngày nay hưởng được dải giang sơn gấm vóc từ Lạng Sơn đến Mũi Cà Mau. Và nếu như người dân Việt hiện có được quyền sở hữu đất đai, thì giới cầm quyền không thể “hành chính hoá các giao dịch dân sự liên quan đất đai”, tạo điều kiện cho các đại gia “thậm thụt với đám cường hào thu hồi những mảnh đất của dân mà họ không mua được”.
Câu hỏi được nêu lên là “Liệu có chỉnh đốn được không khi cỗ máy được vận hành bởi một hệ thống có lỗi luôn chạy theo hướng đẩy họ vào chỗ sai lầm?”.
Blogger Trần An Lộc cảnh báo rằng “Nếu một nông dân Đoàn Văn Vươn bị lãnh án tử hình, chung thân hay 5, 10 năm gì đó... thì thú thật, đó là lời cảnh báo rằng giòng sinh mạng của dân tộc đã tuyệt sinh”.
Nhân sắp bước sang Tân Niên Nhâm Thìn, Thanh Quang xin chúc quý vị cùng người thân, bằng hữu vạn sự an khang.

Giữa độc tài và dân chủ



Hình: Getty Images/iStockphoto

Liên quan đến chuyện độc tài và dân chủ, quan sát tình hình chính trị trên thế giới, người ta thấy có hai điều gần như quy luật.
Thứ nhất, ở các nước có truyền thống dân chủ lâu đời, chính phủ có lên có xuống cách gì đi nữa thì dân chủ vẫn cứ dân chủ. Nhiều lúc, bầu cử xong, chẳng có bên nào thắng bên nào cả. Có hai biện pháp thường được tiến hành: một, đếm phiếu lại; và hai, các đảng loay hoay tìm cách liên hiệp với nhau để có một khối đa số. Biện pháp thứ nhất xảy ra ở Mỹ vào năm 2000 trong cuộc tranh cử giữa George W. Bush và Al Gore, bao gồm không những việc đếm phiếu lại mà còn có cả sự can thiệp của tòa án (ở tiểu bang Florida), kéo dài khoảng một tháng. Biện pháp thứ hai xảy ra nhiều hơn. Gần đây nhất là cuộc bầu cử ở Anh vào tháng 5 năm 2010 với kết quả là cả hai đảng chính, Lao Động và Bảo Thủ, đều không đủ 50% số phiếu cần có. Cả hai đảng đều cố tìm cách ve vãn đảng thứ ba là đảng Dân Chủ Tự Do. Cuối cùng đảng này ngả theo đảng Bảo Thủ, nhờ vậy, đảng Bảo Thủ được lên nắm chính quyền. Tuy nhiên, ở Anh, quá trình thương lượng tương đối nhanh, chỉ mất khoảng một tuần. Ở Úc, ba tháng sau đó, trong cuộc bầu cử liên bang vào ngày 21 tháng 8, kết quả cũng tương tự. Cuối cùng đảng Lao Động phải liên kết với đảng Xanh và các dân biểu độc lập để tiếp tục cầm quyền. Nhưng quá trình đàm phán ở Úc kéo dài khá lâu: đến 17 ngày. Điều đặc biệt là, trong tất cả trường hợp bất thường vừa kể, khi cả nước không có một người lãnh đạo thực sự, guồng máy hành chính và chính trị ở Mỹ, Anh và Úc vẫn chạy rất tốt. Dân chúng không hề nhận thấy có bất cứ một thay đổi nhỏ nào trong đời sống cả. An ninh và trật tự vẫn bình thường. Kinh tế vẫn phát triển. Khi cần làm giấy tờ gì liên quan đến công quyền, người ta vẫn có thể làm được một cách nhẹ nhàng và nhanh chóng.
Thứ hai, ngược lại, ở các nước độc tài, sau một cuộc cách mạng hoặc tự hóa thân với nhiệt tình dân chủ hóa, lại thường gặp rất nhiều vất vả trong việc xây dựng một chế độ dân chủ thực sự. Thường thấy nhất là hai trường hợp: một, nó trở lại với chế độ độc tài nhưng với mức độ và diện mạo khác; và hai, nó phải đi qua những con đường vòng khá quanh co và đôi lúc khá đẫm máu trước khi đến được cái đích mà mọi người mong muốn.
Vấn đề là: Tại sao như vậy?
Câu trả lời được nêu lên đầu tiên là: cơ chế. Người ta cho là, ở các quốc gia dân chủ lâu đời, bộ máy nhà nước đã hoàn thiện, những thay đổi về nhân sự, ngay cả nhân sự thuộc loại cao cấp nhất, cũng không gây ảnh hưởng gì nghiêm trọng. Điều này dĩ nhiên là đúng. Nhưng đó không phải là tất cả. Ở nhiều quốc gia mới dân chủ hay giả vờ dân chủ, người ta cũng có một bộ máy khá tương tự. Thì cũng chính phủ. Cũng Quốc hội. Cũng tòa án. Và đằng sau tất cả các thiết chế ấy, là Hiến pháp và luật pháp. Vậy mà giữa một nền dân chủ lâu đời và một nền dân chủ sơ sinh vẫn khác. Khác rất nhiều.
Câu trả lời thứ hai được đề nghị: văn hóa. Dân chủ không phải chỉ là một thiết chế mà còn là, nếu không muốn nói, chủ yếu còn là một văn hóa. Có một thứ văn hóa dân chủ và một thứ văn hóa phi dân chủ. Văn hóa phi dân chủ dựa trên chủ nghĩa cá nhân độc tôn, sự bí mật và tinh thần bạo động. Văn hóa dân chủ, ngược lại, dựa trên tinh thần tập thể, tính công khai và tinh thần sẵn sàng đàm phán và chấp nhận thỏa hiệp. Văn hóa phi dân chủ sử dụng mọi biện pháp, kể cả áp bức người khác, để giải quyết mọi vấn đề một cách nhanh gọn. Văn hóa dân chủ thừa nhận cái khác, sẵn sàng thảo luận và tương nhượng để cuối cùng mọi người đạt đến một sự đồng thuận chung.
Quan điểm thứ hai được cho là hợp lý. Nhưng ở đây lại có vấn đề: văn hóa dân chủ từ đâu mà có? Không thể nói văn hóa dân chủ nảy sinh từ một truyền thống dân chủ. Nói như vậy là đẩy vấn đề vào đường cùng: Nó sa vào cái bẫy quả trứng và con gà cái nào có trước. Nhưng một nền văn hóa dân chủ có thể được nảy nở trong một thể chế độc tài được không? Câu trả lời cũng lại là không. Đã đành văn hóa không nhất thiết gắn liền với thiết chế. Nhưng văn hóa cũng không phải là cái gì có thể nảy nở từ hư không. Văn hóa gắn liền với con người, với những điều kiện sinh sống của con người; mà con người thì lại chỉ hiện hữu trong và với thiết chế. Bất cứ cộng đồng nào, từ hai người trở lên, bao giờ cũng gắn liền với một thiết chế nhất định hoặc đến từ bên ngoài hoặc do họ xây dựng: nhỏ là gia đình, lớn là xã hội, lớn nữa là quốc gia. Không ai có thể thoát được. Một thiết chế được thành lập trên nền tảng bất khoan dung, chỉ nhắm đến các lợi ích ích kỷ trước mắt, sẵn sàng dùng súng đạn để giải quyết mọi mâu thuẫn, khó mà song hành được với một nền văn hóa dân chủ vốn lúc nào cũng đề cao những điều ngược lại.
Nhưng nếu không thể đợi đến lúc xây dựng được một thiết chế dân chủ và cũng không thể thoát khỏi những ảnh hưởng tiêu cực của các thiết chế độc tài trong hiện tại, làm sao người ta có thể vun đắp một nền văn hóa dân chủ để làm tiền đề cho chế độ dân chủ sẽ được hình thành?
Câu trả lời, thật ra, đã có từ lâu.
Trong cuốn “Dân chủ ở Mỹ” (Democracy in America), xuất bản năm 1835, Alexis de Tocqueville (1805-1859) nhận thấy có nhiều sự khác biệt quan trọng trong đời sống chính trị giữa Mỹ và châu Âu. Một trong những khác biệt ấy chính là sự hiện diện của xã hội dân sự (civil society) ở Mỹ. Điển hình của hình thức xã hội dân sự ấy là vô số các hội đoàn do dân chúng thành lập và sinh hoạt độc lập với chính quyền. Các hội đoàn ấy bén rễ khắp nơi, ở mọi địa phương và thu hút rất nhiều tầng lớp dân chúng khác nhau. Họ thường gặp gỡ nhau, thảo luận về đủ loại vấn đề. Qua các sinh hoạt tập thể như vậy, dân chúng ảnh hưởng lên đời sống chính trị ở địa phương cũng như ở cấp quốc gia bằng cách nêu lên vấn đề, đặc biệt những vấn đề có tính chất cộng đồng, thuộc các nhóm thiểu số, vốn rất dễ bị chính quyền hờ hững. Trước các yêu sách của họ, tự dưng chính quyền phải trở thành minh bạch, mọi chính sách đều trở thành công khai, hơn nữa, họ phải quan tâm hầu như đến mọi tầng lớp khác nhau trong xã hội, bất kể là lớn hay nhỏ, giàu hay nghèo. Quan hệ giữa chính quyền và xã hội dân sự - qua hình thức sinh hoạt đoàn thể - như thế là một thứ quan hệ đầy tính chất dân chủ, thông qua đàm phán và tương nhượng. Nó khác hẳn với thứ quan hệ đầy trấn áp và bạo động ở châu Âu thời bấy giờ.
Có thể nói, qua quan sát của Tocqueville, xã hội dân sự là một trong những tiền đề quan trọng nhất để xây dựng chế độ dân chủ ở Mỹ.
Về sau, giới nghiên cứu cũng đồng ý với nhau, xã hội dân chủ cũng là tiền đề của mọi chế độ dân chủ nói chung.
Nói như vậy cũng có nghĩa là muốn nói: Để có một chế độ dân chủ thực sự vững chắc, chúng ta cần có văn hóa dân chủ; và để có một nền văn hóa dân chủ, chúng ta cần xây dựng, trước hết, một xã hội dân sự lành mạnh.

Chủ Nhật, 15 tháng 1, 2012

NGỌN ĐUỐC VIỆT KHANG



Việt Khang, cái tên đã được rất nhiều người biết đến trong hai tác phẩm Việt Nam Tôi Đâu và Anh Là Ai.Việt là tên lót bí danh hoạt động, Khang là tên người con trai đầu lòng, vì đã chuẩn bị những gì xấu nhất đến với mình, nên Việt Nam Tôi Đâu và Anh Là Ai như một gia tài để lại cho người con trai, với mong ước sau này đứa con sẽ tiếp nối nguyện vọng mà anh chưa thể đạt được, anh nguyện làm viên sỏi lót đường cho những bông hoa lài nở rộ, Vì thế cái tên Việt Khang đã đi vào lòng người, như lời kêu gọi của một “Hội Nghị Diên Hồng”,nhưng không phải là “Nên hòa hay nên chiến” mà anh đã khẳng định “Người người cùng nhau đứng lên đáp lời sông núi” tôi đã nghe được những trăn trở, những uất nghẹn trong lời ca và tiếng hát của anh. Lời ca anh là máu, tiếng hát anh là nỗi đau của xiềng xích đang nghiền nát trên thân thể gầy guộc Mẹ Việt Nam.

Thật ngượng miệng khi phải nói với ai đó rằng: Việt Khang bị bắt vì tội “Yêu nước”, họ sẽ bảo tôi điên, làm gì có cái tội “ Yêu nước” trong pháp luật của thế giới loài người? Thật xót xa và mỉa mai cho Đất Nước tôi, đã bị loài cây chó đẻ lan tràn làm tan nát những mầm xanh tươi của Dân Tộc.Đây không phải là lần thứ nhất Việt Khang vào nhà tù, ngày 19-06-11 anh đã bị trên bốn mươi tên công an Việt gian cộng sản vây bắt giam, sau một tuần đã thả ra chẳng phải bởi lòng nhân đạo, mục đích của chúng là muốn qua anh đế bắt hết những người cùng mang tội “Yêu nước” như anh, đó là giai đoạn mà anh phải sống trong sự khủng bố đày đọa về tinh thần bởi trò chơi thú tính của loài tam vô.Việt Khang đã xếp bút, chuẩn bị cho mình một cuộc hành trình với “Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi”, nhưng đó không phải là một chấm dứt mà là sự khởi đầu cho một tinh thần tuổi trẻ bất diệt. Vào chiều ngày 23-12-11 lúc 19h00 tại Mỹ Tho thuộc tỉnh Tiền Giang, một lần nữa Việt gian cộng sản đã vây bắt đem anh trở lại nhà tù nhỏ.Giáng Sinh là mùa an bình, mùa xum họp để chia sẻ những yêu thương và tha thứ. Bọn vô thần đã bắt anh đúng trong mùa yêu thương, như một sự trừng phạt cài thêm những gai nhọn trong trái tim đang oằn oại trước nỗi đau chia lìa người thân yêu của mình. Tôi thương anh như từng thương những người con Đất Việt đã nằm xuống cho sự tồn vong của Dân Tộc này, có như thế mới thấy được dã tâm của loài vô thần.

Trong một dịp tình cờ qua người bạn, tôi biết đến Việt Nam Tôi Đâu với cái tên nghệ danh Việt Khang, lúc ấy Anh Là Ai còn đang trong thời kỳ thai nghén, dù trước đó tôi đã được nghe qua nhạc phẩm “Bà Má Miền Tây” của Minh Trí, nhưng với cái tên nghệ danh Việt Khang, trong tôi không hề có chút khái niệm nào về một Bà Má Miền Tây cùng Việt Nam Tôi Đâu có một sự liên hệ ruột thịt đến thế. Là một trong những người mong ngày ra đời của “Anh Là Ai”, nên tôi đã nhìn thấy đứa bé chuyển mình trong giai đoạn binh biến xuống đường của những người con yêu nước. “Anh Là Ai” chào đời trong giai đoạn “già trẻ gái trai giơ cao tay, chống quân xâm lược, chống kẻ nhu nhược bán nước Việt Nam”, trong nỗi uất nghẹn trước những cú đạp, những bắt giam, những sỉ nhục bằng ngôn từ đồng chủng máu đỏ da vàng. Vì thế, tôi đã đem Việt Nam Tôi Đâu và Anh Là Ai cùng xuống đường biểu tình tại thành phố Paris với mong muốn được chia sẻ cùng các bạn trẻ nơi quê nhà, chút yêu thương của những người con lưu vong, dù sống xa Tổ Quốc nhưng lòng chúng tôi vẫn luôn hướng về quê Mẹ để cùng đau chung nỗi đau Dân Tộc với các bạn, nguyện cầu Hồn Thiêng Sông Núi phù hộ cho các bạn luôn giữ vững niềm tin, xây dựng cho Việt Nam Tôi Đâu và Anh Là Ai ngày thêm lớn mạnh, tinh thần và sự hy sinh của Việt Khang không thể chết non một cách oan nghiệt. Như lời của Nguyễn Thiện Thành một người bạn rất thân trong nhóm Tuổi Trẻ Yêu Nước đã nói về Việt Khang… “Anh Khang đã không còn ở với chúng ta, những người cộng sản bạo quyền kia có thể giam thân xác anh, nhưng không thể giam được tấm lòng anh, và chúng tôi, những thanh niên yêu nước, những tuổi trẻ yêu nước sẽ nhất quyết noi theo gương anh, và sẽ có những hành động, ngày hôm nay tôi xin khẳng định với tất cả quý vị, chúng tôi sẽ có những hành động trực tiếp ở trong nước, để cảnh cáo đảng cộng sản Việt Nam, khi mà dám đụng đến đám tuổi trẻ yêu nước của chúng tôi, chúng tôi là tuổi trẻ, chúng tôi dám nói, chúng tôi dám làm, và chúng tôi sẽ biến sự đau thương này thành sức mạnh. Và chúng em xin gửi đến anh Khang một cái tình yêu thương của những người em.” Là một người nhạc sĩ, anh không thể sáng tác theo đơn đặt hàng, vì khi viết một bài nhạc anh phải thể hiện cái tâm hồn vào đó, trong giai đoạn đất nước đang bên bờ vực thẳm, làm sao anh có thể sáng tác những lời nhạc chỉ mang tính chất tình yêu trai gái, mặc dù cuộc sống anh rất khó khăn, vì anh còn phải cưu mang trách nhiệm của một người chồng, một người cha trong gia đình.Tình yêu đất nước đã khiến anh ray rức, hãy nghe lời nói từ trái tim anh….

Tôi không thể ngồi yên
Khi nước Việt Nam đang ngã nghiêng
Dân tộc tôi sắp phải đắm chìm
Một nghìn năm hay triền miên tăm tối
Tôi không thể ngồi yên
Để ngày sau cháu con tôi làm người
Cội nguồn ở đâu
Khi thế giới này đã không còn Việt Nam.

Vì thế, anh đã từ chối nhuận bút của nhiều nơi, anh không muốn biến tình yêu quê hương nồng nàn thành sự mua bán, anh chấp nhận nghèo khổ để gìn giữ lý tưởng được trong sáng, góp tinh thần cho ngọn lửa đấu tranh ngày thêm lớn mạnh, tôi nhìn thấy đâu đây một tia hy vọng, được đốt sáng từ ngọn đuốc của Việt Khang, hãy thổi bùng lên ngọn lửa thiêng đốt cháy đi những loài cây chó đẻ, cho nước chảy về nguồn, cho cây xuôi về cội, để Mẹ Việt Nam không còn đau nỗi đau xót dạ, khi nhìn cảnh đời đói khổ lầm than.
Việt Khang đã nguyện dâng hiến đời mình cho non sông, và anh đã rời xa chúng ta để bước theo tiếng gọi hồn sông núi, anh đã trải lòng mình trong Giã Từ Vũ Khí như một lời từ biệt, làm sao ai biết được cuộc chia ly này có phải là đoạn cuối của cuộc từ ly? Còn nỗi đau nào hơn nỗi đau của một người chiến sĩ phải buông tay súng khi chí cả chưa thành? Thân phận anh có khác gì người lính Việt Nam Cộng Hòa năm xưa… “Trả súng đạn này khi sạch nợ sông núi rồi”…Có nghe không nỗi uất nghẹn của Việt Khang khi phải trả súng mà nợ núi sông vẫn đeo nặng trong trái tim còn đang rỉ máu.Súng của anh là ngòi bút viết lên nỗi đau dân tộc, đang bị những kẻ dối gian dùng quyền uy banh da xẻ thịt Mẹ Việt Nam dâng bán cho tàu cộng, ngòi bút của anh là ngọn đuốc soi đường cho ngọn lửa Tự Do được thắp sáng trên ba miền, đạn của anh là tiếng hát thống thiết kêu gọi sự đứng lên của toàn dân, làm kẻ thù phải khiếp sợ, và anh đã làm viên sỏi trong muôn ngàn viên sỏi lót đường cho đôi chân Tự Do bước đi không sờn lòng, hỡi các bạn trẻ yêu nước, hãy thắp sáng ngọn đuốc Việt Khang, non sông đang chờ những đứa con đi làm lịch sử, hãy cùng nhau viết lên một trang sử mới, với Hồn Người Việt Máu Đỏ Da Vàng, xin đừng để thiên đàng này mãi chỉ là những ước mơ. Tổ Quốc rồi đây sẽ ghi ơn các bạn, hãy vững niềm tin bước theo ngọn đuốc Việt Khang như lời các bạn đã khẳng định. Tôi yêu các bạn.

Hạt sương khuya
Paris 2012
Mudim v0.8 Tắt VNI Telex Viqr Tổng hợp Tự động Chính tảBỏ dấu kiểu mới [ Bật/Tắt (F9) Ẩn/Hiện (F8) ]

Thứ Tư, 4 tháng 1, 2012

Indonesia Activists Call for Boy's Release in Petty-Theft Case

Achmad Ibrahim/Associated Press
An Indonesian activist lined up pairs of sandals this week in solidarity with a 15-year-old boy who is being prosecuted for stealing an old pair of sandals.
Follow @nytimesworld for international breaking news and headlines.
The second hearing in the trial began around 10 a.m. Wednesday, with dozens of students and activists gathering outside the courtroom in Palu, Central Sulawesi, to call for the release of the suspect, who was identified only as A.A.L.
Meanwhile, protesters continued dropping off their used flip-flops at the offices of the National Commission for Child Protection, a public agency that organized the collection, as well as at police stations and prosecutors’ offices.
The sandal campaign has grabbed headlines and become a favorite topic on social networking sites since it began Dec. 29. Organizers said the initial aim was to collect 1,000 pairs of sandals in mock protest of the officer who made the allegations, but by Wednesday more than 1,200 pairs of shoes had been collected.
Muhammad Ikhsan, the secretary at the National Commission for Child Protection, said the protest was an effort to improve the legal process so that children are not made into criminals in other cases of petty crime.
He said the agency planned to deliver the sandals to the officer, adding that if the officer felt wronged by having his shoes taken, the public would provide him with more in return.
The boy is accused of taking the officer’s shoes from outside a police boarding house in Palu as he walked home from school with friends in November 2010. Six months later, Sgt. Ahmad Rusdi Harahap accused the boy of theft, and the boy was interrogated and badly beaten, said Mr. Ikhsan, who has been documenting the case. He said the boy’s parents filed a complaint after discovering bruises on the boy’s body. The officer’s suit followed the complaint.
Mr. Harahap, a member of the Central Sulawesi Police Mobile Brigade, could face disciplinary action following a police tribunal, said a National Police spokesman, Inspector General Saud Nasution. And Brigadier Jhon Samson, accused of having a role in the beating, has been prevented from seeking a promotion for a year.
Mr. Nasution said the police had handled the case according to the correct procedures. He said the National Police had encouraged the local police to look into the allegation of mistreatment.
But activists say the public indignation at the case is a sign that people are fed up with abuses of power by the police.
“This is another example of police un-professionalism,” said Indria Fernida, a deputy coordinator with the human rights group Kontras. She said that too often the police and prosecutors focus on petty crimes while avoiding cases that involve people with power and authority.
If the boy is found guilty in the stolen sandal case, he could face up to five years in prison — a greater sentence than that meted out in the past to convicted terrorists and major corruption convicts.
Protest organizers say law enforcement officers should focus on reform rather than jail for cases involving children. For children who engage in acts of wrongdoing the most important thing is to obtain “restorative justice,” said Mr. Ikhsan, referring to the need for guidance and a change of mind-set so that children do not have to go to jail.
Mr. Nasution said the police had nothing to hide. “The police here are open, meaning we’re accountable and transparent and should be trusted,” he said, adding that they would investigate those who had acted without professionalism if evidence of misconduct is raised during the trial.        

Thứ Sáu, 16 tháng 12, 2011

Thư cảm ơn những người đã tham gia và ủng hộ đòi trả tự do cho blogger Điếu Cày -

Nguyễn Văn Hải.

Nguyễn Ngọc Như Quỳnh (Mẹ Nấm) - Sau hơn một tháng vận động chữ ký gửi ông Chủ tịch nước Trương Tấn Sang yêu cầu trả tự do cho blogger Điếu Cày, bức thư ngỏ và toàn bộ (số chữ ký) đã được gửi bằng đường bưu điện đến Văn phòng Chủ tịch nước.

Như Quỳnh và các bạn khởi xướng công việc này xin gửi lời cảm tạ chân thành nhất đến các bác, cô chú, anh chị và bạn bè đã tham gia cùng ký tên, góp ý và tiếp tay thông tin.

Sự hỗ trợ của nhiều người đã đem lại những kết quả cũng như mang nhiều ý nghĩa khác nhau:
1. Gia tăng sự quan tâm của dư luận khắp nơi đối với anh Điếu Cày và một cách công khai, chính thức cùng nhau lên tiếng rõ ràng, minh bạch về trường hợp bị giam giữ trái phép của một công dân từ 4 năm trước đã cùng với hàng ngàn người đứng giữa thành phố Sài Gòn khẳng định Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam.

2. Chứng minh rằng trong khuôn khổ của Hiến pháp và quy định pháp luật hiện hành, bất kỳ người dân Việt Nam nào cũng có thể sử dụng quyền công dân để công khai bày tỏ ý kiến của mình với ông Chủ tịch nước một cách nghiêm chỉnh: việc tiếp tục giam giữ công dân Nguyễn Văn Hải không có phán xét của tòa án, không một thông tin gì về ông đến thân nhân, và cũng không một tuyên bố chính thức gì về những quy trình pháp luật sẽ áp dụng cho ông Hải là một hành động vi hiến, phạm pháp, vô nhân đạo và không tôn trọng quyền công dân.

3. Bất kỳ công dân nào cũng có quyền bày tỏ tinh thần tôn trọng cơ sở luật pháp như chính lời tuyên bố của ông Chủ tịch nước: "Vấn đề chủ quyền quốc gia là thiêng liêng và bất khả xâm phạm. Bất cứ nước nào dù to hay bé cũng đều có nhận thức như vậy. Giữ vững độc lập chủ quyền, trong đó có chủ quyền biển đảo, trước hết phải dựa vào cơ sở quan trọng là luật pháp (luật quốc nội và luật quốc tế)…” và cơ sở luật pháp này phải được áp dụng bình đẳng cho mọi công dân Việt Nam, trong đó có blogger Điếu Cày - Nguyễn Văn Hải.

Kính thưa quý bác, cô chú, anh chị và bạn bè,

Trong một thời gian hơn một tháng, tổng số chữ ký cũng là một sự đo lường về tình trạng phát triển xã hội dân sự của Việt Nam dựa vào sự tham gia của quần chúng vào một vấn đề chung của đất nước.

Vấn đề của công dân Nguyễn Văn Hải cũng như tình trạng chị Bùi Hằng bị bắt vào trại cải tạo Thanh Hà mới đây không chỉ là vấn đề cá nhân mà còn là một vấn đề chung của xã hội.

Việc ký tên với dữ kiện cá nhân vào thư ngỏ gửi Chủ tịch nước hay tham gia biểu tình yêu nước đều mang một ý nghĩa như nhau: thể hiện quyền làm chủ của nhân dân đối với những vấn đề chung của đất nước. Đồng thời cả hai hành động này, con số tham gia cũng cho chúng ta biết phần nào về tình trạng phát triển xã hội dân sự tại đất nước của chúng ta.

Chính vì vậy mà các bạn khởi xướng công việc này tin rằng ngoài việc vận động tự do cho cá nhân anh Điếu Cày, 824 chữ ký còn là nền tảng cho việc vận động tự do của nhiều người: Tự do công khai, minh bạch, khẳng khái cùng nhau lên tiếng nói cho mọi vấn đề có ảnh hưởng đến Độc lập, Tự do và Hạnh phúc của dân tộc và đất nước Việt Nam.

Mỗi người chúng ta ngày hôm nay đều có thể trở thành một Điếu Cày bị giam giữ không có phán xét của tòa án, không một thông tin gì đến với thân nhân, và cũng không một tuyên bố chính thức gì về những quy trình pháp luật bị áp đặt lên cá nhân mình.

Không có một lối đi dễ dãi nào cho những người lương thiện. Chỉ có một con đường chông gai nhưng ấm lòng hơn, ít cô đơn hơn và chóng đến đích hơn khi có nhiều người đồng hành. Với ý nghĩ đó, Như Quỳnh và các bạn của mình xin gửi đến mọi người lời cảm ơn chân thành nhất.

Lời cuối cùng của lá thư này, cách riêng xin đặc biệt cám ơn mẹ tôi, người đã thầm lặng hy sinh hỗ trợ cho tôi có thêm thời gian làm những công việc chung như thế này, cảm ơn những người đã lặng lẽ động viên khích lệ tinh thần bằng cách này hay cách khác.

Chân thành cảm tạ,

Nguyễn Ngọc Như Quỳnh

P/s: Trong lúc cập nhật lại file thông tin của mọi người, và sắp xếp lại theo thứ tự alphabet nên số thứ tự đã thay đổi khác với email thông báo mà mọi người đã nhận được. Có thể có một số trường hợp đã đăng ký nhưng do không thể liên lạc được với mọi người để xác minh thông tin nên không có tên. Thành thật cáo lỗi và xin cám ơn.

Phải chi ngày ấy

Huy Phương - Saturday, December 10, 2011
Chưa lúc nào ở trong nước lại rộ lên phong trào truy tầm, cải táng những nấm mộ tập thể của Quân Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa đã vị vùi dập trong những ngày đầu khi miền Nam bị thất thủ như hiện nay, tất cả đều do thân nhân nóng lòng đi tìm hoặc dân chúng vì lòng trắc ẩn hướng dẫn. Tháng 5, 1994 tại Bình Dương, một ngôi mộ tập thể chôn 37 người đã được bà quả phụ Nguyễn Viết Thông vì theo dấu vết chồng mà tìm ra, cuối cùng chỉ tìm được 17 người nhờ số thẻ bài, căn cước nhựa còn lại. Tháng 12, 2010 dân làng An Dương, huyện Phú Vang, Thừa Thiên đã cải táng và xây lăng mộ cho 128 tử sĩ VNCH gồm TQLC và quân nhân các binh chủng khác cũng như dân chúng chết trên bãi biển Thuận An vào những ngày cuối tháng 3, 1975. Tại bãi biển Tư Hiền, dân chúng cũng đã chôn cất nhiều anh em binh sĩ TQLC, nhưng hiện nay rất khó tìm ra dấu vết đã trên 35 năm.
Nhân nghe nguồn tin này anh Dương Công-An, nguyên là một hạ sĩ quan thuộc tiểu đoàn 223 Pháo Binh, hiện sống tại Ðức Quốc, đã cho biết tại Quân Y Viện Qui Nhơn, có một hầm chôn tập thể của 47 thi hài tử sĩ vào cuối tháng 3, 1975, trong số này có Ðại Tá Nguyễn Hữu Thông, trung đoàn trưởng Trung Ðoàn 42, SÐ 22BB. Dù nóng lòng biết có thân nhân trong hầm chôn, nhưng không ai có khả năng gõ cửa chính quyền để xin khai quật nấm mộ này.
Tại Chu Lai, Quảng Nam trong khi người ta dùng xe ủi đất để xây cảng Kỳ Hà, người lái máy cày đã gom được một số xương và vật dụng của các binh sĩ thuộc Trung Ðoàn 4, SÐ2BB. Tại chùa Dương Lâm, xã Tam Dân, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam, người ta cũng tìm ra trên 100 hài cốt của các chiến sĩ trong đó chỉ tìm được 6 người còn có thẻ bài vì dân chúng cho biết khi vùi lấp các chiến sĩ này, Việt Cộng đã giựt hết thẻ bài, một số thẻ bài còn lại nhờ các binh sĩ đã giấu trong giầy trận của họ.
Nghĩa trang của các quân nhân Sư Ðoàn 18BB tại An Lộc bị san bằng, trồng cây cao su lên xác lính, bia lấy về lót chuồng nuôi heo, dân chúng dò tìm theo mương suối đào tìm được 25 tấm bia đem về chùa hương khói. Cũng tại An Lộc, nghĩa trang của các quân nhân Liên Ðoàn 81 Biệt Kích Dù đã bị san bằng, hiện nay không biết xương cốt của các binh sĩ này ở đâu.
Tại xã Sơn Quang, quận Sơn Tịnh, Quảng Ngãi, con gái của một nạn nhân trước đây là đảng viên Quốc Dân Ðảng, tiết lộ với chương trình Huynh Ðệ Chi Binh của chúng tôi, là cha cô bị cộng sản chôn sống vào tháng 4, 1975. Dò theo đường đi của cha, cô được đồng bào địa phương cho biết nấm mộ tập thể này chôn 30 người nhưng không dám lên tiếng vì sợ hãi, đồng thời cũng lo ngại khu mộ này sẽ bị sóng cuốn mất vì ở sát biển.
Nguồn tin từ gia đình 81 Biệt Kích Dù, hai toán hoạt động ở Long Thành, tháng 5, 1975, sau khi ra hàng đã bị bắn và vứt xác xuống giếng cạn, người dân có đánh dấu nhưng không dám tiết lộ cho ai.
Trong nhiều trại “cải tạo” từ Nam ra Bắc, nhiều người miền Nam chết vì bệnh tật hay bị xử bắn đã bị chôn cất sơ sài, xiêu lạc mồ mả hiện nay không còn dấu vết. Nhiều gia đình đã nhờ các “nhà ngoại cảm” trong nước giúp đi tìm mộ, nhưng người chết cũng còn bị phân biệt đối xử nên nhiều nhà ngoại cảm từ chối không giúp thân nhân tìm hài cốt lính “ngụy.” Không khuyến khích việc truy tầm những nấm mộ “oán thù” trong những ngày cuối của cuộc chiến, chính quyền cộng sản còn làm khó khăn cho thân nhân người chết và dân chúng địa phương khi muốn tiến hành các nghi thức cầu siêu hay tế lễ, hình như chúng sợ đám đông, sợ sự liên tưởng, sợ sự hoài niệm đến một hình ảnh người lính miền Nam đã khuất. An Dương là một bài học như thế! Khi người quả phụ cùng con, đem hương hoa, lễ vật cúng cho người chồng chết từ ba mươi lăm năm về trước, trong trận chiến rút lui cuối cùng, đã bị công an mời vào đồn làm việc, sau đó bị đuổi về không cho vào thăm phần mộ!
36 năm sau, tiến súng đã ngưng, nhưng “hòa hợp, hòa giải” chỉ là lời nói đầu môi chót lưỡi, ngay cả với ngân khoản của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ dành cho việc kiếm người mất tích, Hà Nội không chấp nhận tìm kiếm quân nhân Việt Nam Cộng Hòa, với lý do “đã nhân đạo thì không có điều kiện.” Thượng Nghị Sĩ Jim Webb, chủ tịch Tiểu Ban Ðông Á-Thái Bình Dương tuyên bố Mỹ sẽ ngưng tiền viện trợ tìm kiếm quân nhân mất tích tại Việt Nam “cho đến khi chúng ta được bảo đảm chắc chắn rằng chương trình viện trợ áp dụng đồng đều cho tất cả những ai chiến đấu ở tất cả các bên.”
Chính ông Võ Văn Kiệt, cựu thủ tướng CSVN, trong một cuộc phỏng vấn của đài BBC hồi 30 tháng 4, 2007, cho hay Việt Nam nay đã bắt tay với tất cả các kẻ thù trong quá khứ, Pháp trước đây, Mỹ sau này, và mới đây Trung Cộng đã tàn phá ba tỉnh biên giới, nhưng đối với người lính miền Nam, hận thù không thể quên.
Hôm nay, những dòng nước mắt chưa ngừng chảy vì những oan khuất chưa được giãi bày, những linh hồn chưa được siêu thoát. 36 năm là một thời gian quá dài, trên mặt đất, địa hình không còn để lại dấu vết, bia mộ xiêu lạc, dưới mộ sâu xương đã tàn cốt đã mục. Nếu có, thân nhân may mắn chỉ tìm ra nắm xương tàn hay chút di vật nhỏ nhoi.
Ðã có những bà mẹ, những người vợ sau chiến tranh, tuyệt vọng vì không tìm được tin tức thân nhân của mình, chết sống ra sao, hài cốt xiêu lạc nơi nào. Cộng Sản Hà Nội vẫn căm thù dai dẳng, đối xử tàn tệ cả với người đã chết, từ nghĩa trang quân đội hoang tàn, đổ nát đến hàng nghìn địa điểm chôn người chưa được khai quật. Cuối cùng tất cả đều tan nát với cỏ cây, xóa nhòa theo thời gian, như nỗi buồn của những bà mẹ già đã đem theo nỗi trông ngóng xuống mộ sâu, chờ nắm xương xiêu lạc của đứa con chưa trở về.
Phải chi ngày ấy, sau khi chiến thắng, miền Bắc đã có chính sách kêu gọi dân chúng, cán bộ trong nước, ai biết tin tức gì về những nấm mộ tập thể của những người lính miền Nam, dù là kẻ thù trước đây, hãy khai báo, để giúp đào xới, kiểm kê, nhận dạng cho thân nhân cải táng, đem về quê quán cho đúng với truyền thống đạo lý của Ðông phương “nghĩa tử là nghĩa tận,” “không có ai thắng ai thua.”
Nhưng không!
Ðược như thế thì họ đã là con người, còn nói làm gì nữa

Con Cháu Các Cụ (4C) ở Việt Nam

(1) Không có con cháu nào của cấp lãnh đạo CSVN phục vụ trong quân đội nhân dân CSVN. Tập đoàn quyền lực chính trị, tư bản đỏ đều do các con cháu của các tay chóp bu CSVN.
(2) Tội nghiệp các thành phần thấp cổ bé miệng phải đem thân phục vụ Quân Đội CSVN, sẳn sàng hy sinh mạng sống nơi chiến trường nếu có chiến tranh Việt-Trung.
(3) Tội nghiệp khoảng 80 triệu dân lành vô tội và nghèo khổ phải can tâm làm dân bị trị.

Trân trọng,
Trần Văn Thưởng ( 15/12/2011)


Xin nói ngay các cụ đây không phải các cụ già trong hàng dân dã mà là các cụ ủy viên trong Trung ương đảng cộng sản Việt Nam. Chế độ Cộng Sản Việt Nam hôm nay không phải chỉ là chế độ đảng trị mà thực sự là một chế độ quân chủ chuyên chế trong đó tập thể con cháu, hàng họ các đảng viên cao cấp thay phiên nhau cầm quyền và bốc lột người dân giống như thuở các triều đại khi xưa.
Bài viết sau đây là một sưu tập các 4C, tuy chưa đầy, nhưng đủ để cho thấy chế độ Cộng Sản Việt Nam từ thời Hồ Chí Minh cho đến nay chỉ là một thứ gia đình trị, tập hợp các đảng viên cao cấp bạo ngược, phân chia quyền lực và quyền lợi từ cha đến con, cả đến hàng họ xa gần và bè đảng đã đưa xã hội đến chỗ vô đạo, đất nước đến chỗ nghèo đói, và hiểm họa Bắc thuộc lần thứ tư như điều không tránh khỏi.
Con của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng (2006 - )
Chúng tôi bắt đầu với người có nhiều quyền lực, gian xảo và tham nhũng nhất nước hiện nay là thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.
Lý lịch của Nguyễn Tấn Dũng thật mù mờ. Trên trang mạng của Nguyễn Tấn Dũng ghi là sinh năm 1949 tại Cà Mau, nhưng ngôi nhà tự nguy nga của Dũng thì ở Rạch Giá. Ông Hoàng Dũng, một cán bộ Văn phòng Trung ương đảng đã làm việc với nhiều ủy viên cao cấp trong đảng, đã tiết lộ nhiều bí mật về đời tư của nhiều người lãnh đạo. Về Nguyễn Tấn Dũng, ông viết: «Theo cụ Nguyễn văn Linh, Tổng Bí Thư, thì trong thời gian Nguyễn Chí Thanh làm Bí thư Liên khu ủy Khu IV từ năm 1948 đến 1950 đã có quan hệ với một cán bộ phong trào ở đây và sinh ra Nguyễn Tấn Dũng và cụ còn cho biết là Nguyễn Tấn Dũng còn có một người em trai nữa cũng là con của tướng Thanh.
Cũng trong tài liệu nầy, ông Hoàng Dũng tiết lộ là có gặp nhiều lần Nguyễn Tiến Thắng (Tư Thắng) là em của Nguyễn Tấn Dũng (Ba Dũng). Ông viết về Tư Thắng như sau: Điều tôi quan tâm nhất là anh ta có quan hệ với nhiều người Đài Loan, đặc biệt trong mạng lưới các chân rết của Tư Thắng có một ngân hàng Đài Loan hoạt động chui tại VN là First China Bank. Như vậy, có thể hiểu được đây chính là «sân sau» của Ba Dũng và để tránh đụng chạm với các thế lực khác cạnh tranh, anh em ông Ba Dũng đã nhắm vào địa bàn hoạt động chủ yếu ở miền Trung và Nam Bộ, sau đó việc rửa tiền và chuyển ngân lậu được thực hiện qua ngã Đài Loan...(Hoàng Dũng 09/10/2006 Những bí ẩn về Nguyễn Tấn Dũng, trang mạng winc100.multiply.com/journal/ item/261/261)
Tiến sĩ Nguyễn Văn Huy (Paris), căn cứ vào sự nâng đỡ tận tình của tướng Lê Đức Anh (chủ tịch nước 1992-1997, nay đã hơn 90 tuổi nhưng vẫn còn uy thế trong Trung ương đảng) lại đưa giả thuyết không những Nguyễn Tấn Dũng mà cả Nguyễn Minh Triết đều là con rơi của Lê Đức Anh (cần phân biệt với tướng Lê Hồng Anh, là đàn em được Dũng cất nhắc cho làm Bí Thư Tỉnh Rạch Giá, rồi phong quân hàm đại tướng, Bộ trưởng bộ Công An cho đến tháng 8/2011)
Dù là con của ai, căn cứ vào lý lịch và đường hoạn lộ thênh thang của Dũng, chắc chẳn Dũng là con rơi của một cán bộ cao cấp cộng sản. Lúc 12 tuổi, Dũng đã bỏ học (vừa học xong bậc tiểu học) đi làm du kích, y tá cứu thương ở vùng Cà Mau rồi chính ủy tiểu đoàn, trung đoàn ở vùng Cà Mau, tiến lên đến Tỉnh ủy Kiên Giang. Trong thời gian nầy (1980-1985), Dũng đã có công bắt nhóm Trần Văn Bá (bị xử tử), Mai Văn Hạnh được tha trở về Pháp vì là bạn học cũ của thủ tướng Pháp thời đó. Ngoài ra, Dũng còn tổ chức những cuộc vượt biên bán chính thức ở Rạch Giá và Hà Tiên để làm giàu cho đảng và cho cá nhân. Nhờ Võ Văn Kiệt và Lê Đức Anh cất nhắc, Dũng được đưa về trung ương làm Thứ trưởng Công An (1995-1996), Thống đốc Ngân hàng, Phó Thủ Tướng rồi Thủ Tướng (thay thế Phan Văn Khải) từ tháng 11-2006 và được tái cử trong kỳ đại hội đảng lần thứ XI (2010). Thử tưởng tượng một người vừa học hết tiểu học (sau nầy có học trường đảng cho có lệ, nhưng trong lý lịch ghi là Cử Nhân Luật), mà được đưa lên làm thống đốc ngân hàng trong thời kỳ kinh tế Á châu bị khủng hoảng, và thủ tướng của một quốc gia có nhiều liên hệ với các cường quốc, thì phải hiểu là việc lãnh đạo quốc gia đối với cộng sản là việc riêng của đảng. Ngoài ra, Nguyễn Tấn Dũng lại là người có nhiều mưu trí và thế lực trong Trung ương đảng, là đảng viên cao cấp duy nhất sớm gởi con du học ở Mỹ và làm sui gia với Việt kiều, điều cấm kỵ tối hậu của đảng. Báo chí thuật lại trong lần họp hội nghị APEC năm 2006, Tổng Thống George Bush chúc mừng xỏ xiên Dũng có con du học ở Mỹ và lấy Việt kiều, Dũng bối rối phải chống chế là con trai đi học bằng học bổng (có lẽ để biện hộ với lương của thủ tướng độ 1000 mỹ kim thì làm sao có thể cho con du học) và lờ đi chuyện con gái lấy Việt Kiều.
Đứa con mà Bush nhắc đến là Nguyễn Thanh Nghị, tốt nghiệp Tiến sĩ Kỹ sư công chánh (Structural Engineering) ở đại học George Washington University, và khi về VN giảng dạy tại đại học Kiến Trúc thành phố HCM, rồi Phó Hiệu Trưởng (Phó Khoa Trưởng) trường nầy. Trong đại hội đảng lần thứ XI, Dũng đã dọn đường lãnh đạo cho con bằng cách đưa Nguyễn Thanh Nghị vào làm ủy viên dự khuyết trong Trung ương đảng và ngày 11-11-2011, Dũng đã bổ nhiệm con trai mình làm Thứ Trưởng Bộ Xây Dựng mặc dù bộ nầy đã có 5 thứ trưởng (Dũng đã hèn nhát không ký tên trên nghị định bổ nhiệm mà sai phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc ký thay). Tại VN hiện nay, hai mỏ vàng để hốt bạc và tham nhũng là ngành xây dựng (đất đai và địa ốc) và hải quan. Về mặt kinh tế, từ nhiều năm nay, Nghị có liên hệ mật thiết với Công ty Betexco là đại công ty xây cất các tòa nhà chọc trời ở Saigon và HàNội. Tầm hoạt động của Betexco còn bao trùm cả kỹ nghệ may dệt, vô chai và thủy điện. Như vậy, Nguyễn Thanh Nghị là cột trụ chính trị và kinh tế cho gia đình Dũng và cho đảng Cộng Sản.
Đứa con lấy Việt kiều tên là Nguyễn Thanh Phượng, du học ở Thụy Sĩ, đậu MBA ở International University in Geneva là đại học có liên kết với Michigan State University (cô chỉ đến Mỹ năm 2004 trong 2 tuần để nhận bằng từ đại học nầy chớ không có du học tại Mỹ). Tháng 1 năm 2006, lúc mới 26 tuổi, Phượng đã làm Giám đốc đầu tư của công ty Vietnam Holding Asset Management, quản trị trên 100 triệu MK của các nhà đầu tư Thụy Sĩ tại VN. Đến tháng 11 cùng năm, Phượng làm Chủ tịch Quỹ đầu tư chứng khoán Việt (Viet Capital Fund Management Joint Stock Company, viết tắt là VCFM) gồm hàng ngàn tỷ bạc (VN) của các nhà đầu tư và công ty người Việt. Công điện Wikileaks tiết lộ là trong báo cáo của Tổng Lãnh sự Hoa kỳ tại Saigon là Seth Winneck gởi về Bộ Ngoại giao ngày 26/12/2006 đã viết : « Tại sao người ta có thể tin tưởng để giao một số vốn khổng lồ như thế cho một người trẻ tuổi thiếu kinh nghiệm như Phượng. Và câu trả lời hiển nhiên là về mặt chính trị, giao quỹ đầu tư cho cô con gái cưng của thủ tướng quản trị là một điều khôn ngoan bởi lẽ quỹ nầy tập trung những ngành mà chánh phủ kiểm soát như dầu khí, ngân hàng và truyền thông »
(danluan.org/node /10093).
Năm 2011, Phượng 31 tuổi là một tỷ phủ, Chủ tịch Hội Đồng Quản Trị Công ty Chứng khoán Bản Việt sở hữu 6.5 triệu cổ phần chiếm 43.2% vốn của công ty, Chủ tịch HĐQT Công ty bất động sản Bản Việt và vài ngày trước khi người anh được cử là thứ trưởng, Phượng được đề cử vào HĐQT Ngân hàng Bản Việt (trước có tên là Gia Dinh Bank) với số vốn là 3,000 tỷ VN. Với các thành tích trên, Phượng là nhà doanh thương trẻ tuổi kỳ tài nhất của thế giới !
Người chồng của cô Phượng là Nguyễn Bảo Hoàng (Henry Nguyen) con của Việt kiều «tội đồ» Nguyễn Bang (Nguyễn Tấn Dũng đã gọi Việt Kiều Nguyễn Cao Kỳ là tên tội đồ). Henry Nguyễn là Tổng Giám Đốc Điều Hành công ty IDG Ventures với số vốn là 100 triệu MK (sau tăng lên 200 triệu) phần lớn do người anh rể là Thomas Connor, một tài phiệt Mỹ đã làm ăn với Bộ Viễn Thông Bưu Chính Việt Nam, kiểm soát hầu hết hệ thống thuê bán Internet và truyền thông tại VN. Thomas Connor đã một lần khai phá sản, nhưng số đầu tư vẫn gia tăng, do đó câu hỏi đặt ra phải chăng các công ty do vợ chồng Phượng-Hoàng quản trị là cửa ngõ hợp pháp cho cha vợ và đồng bọn rửa tiền, tẩu tán tài sản tham nhũng ra ngoại quốc.
Đứa con thứ ba của Dũng là Nguyễn Minh Triết, học kỹ sư hàng không ở đại học Queen Mary tại Anh Quốc, và đã có giữ chỗ ở Bộ Quốc Phòng khi về nước. Gia đình Nguyễn Tấn Dũng là điển hình của chế độ con vua thì lại làm vua tại VN hôm nay.
Con của nguyên Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh (2001-2010)
Trong kỳ hợp đảng lần thứ XI còn có một 4C thứ hai cũng được bầu là Ủy viên dự khuyết Trung ương đảng, tạo nên nhiều tai tiếng là Nông Đức Tuấn, con trai của Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh (2001-2010). Cá nhân Nông Đức Mạnh cũng đã là một 4C, con rơi của Hồ Chí Minh với Nông thị Ngát, bí danh là Nông Thị Trưng. Được báo chí hỏi có phải Mạnh là con tư sinh của Hồ Chí Minh hay không, Mạnh đã trả lời lửng lơ «Ở đất nước nầy ai chẳng là con cháu của Bác».
Nông Đức Tuấn sinh năm 1963, người dân tộc Tày, đã đi lao động xuất khẩu tại Đông Đức từ lúc 18 tuổi, lúc ấy Nông Đức Mạnh đã làm Tỉnh ủy tỉnh Bắc Thái. Sỡ dĩ cha làm quan mà đưa con đi lao động xuất khẩu vì cha muốn đưa con ra ngoài nước để cai nghiện khỏi xấu hổ. Từ khi trở về nước cuối năm 1988 cho đến năm 2008, Tuấn lêu bêu với mấy chức vụ trong Đoàn Thanh niên và Ủy Ban Sắc tộc. Để dọn đường cho con trai làm lãnh tụ, Nông Đức Mạnh «dàn xếp » với Thủ Tướng Dũng cử Nông Đức Tuấn làm Phó tỉnh ủy tỉnh Bắc Giang vào tháng 4 năm 2009. Vận may đến với Tuấn là khi người thanh niên tên Nguyễn Văn Khương bị công an tỉnh Bắc Giang đánh chết và dân chúng xuống đường đòi nợ máu với chánh quyền, Tỉnh ủy Bắc Giang tên Đào Xuân Cẩn bị ép buộc từ chức để nhường ghế Tỉnh ủy cho Tuấn. Khi Đại hội Đảng họp lần thứ XI, tuy Mạnh bị mất chức Tổng Bí Thư nhưng lại gài được cho con vào ghế Ủy viên Trung ương, mở đường cho chế độ cha truyền con nối dòng họ Nông.
Con của cố Tổng Bí Thư Lê Duẩn (1960-1986)
Lê Duẩn là người Tổng bí thư cầm quyền lâu nhứt của chế độ Cộng Sản VN. Từ 1960 đến 1976, Lê Duẩn là Bí Thư thứ nhứt của đảng và từ sau 1976, chức vụ được đổi là Tổng bí thư, chức vụ mà Duẩn nắm giữ cho đến khi Duẩn mất năm 1986. Trong lý lịch các nhân vật cao cấp cộng sản, Duẩn cũng như Hồ Chí Minh và nhiều đồng chí được xếp vào hạng vừa dốt, vừa độc tài và đa thê. Vì nhiều vợ, Duẩn có nhiều con, trong số có nhiều người giữ các chức vụ quan trọng trong chánh phủ và cơ sở kinh tế đầu não. Theo Hứa Hoành, thuở sinh thời, Lê Duẩn có ba vợ, bà vợ chính tên Cao thị Khê ở Quảng Trị cưới khi Duẩn 20 tuổi, có em là Cao Xuân Diệm, sau nầy trở nên Trung tướng công an bí danh Dương Thông phụ trách đàn áp văn nghệ sĩ. Bà thứ hai là Đỗ Thị Sảnh. Năm 1942, khi hoạt động trong Nam, Lê Duẩn dùng thủ đoạn cưới thêm bà Thụy Nga, cháu gọi ông Đỗ Hữu Vị (đại úy phi công VN đầu tiên trong quân đội Pháp). Ngoài ba bà vợ, Lê Duẩn còn lăng nhăng với nhiều người khác, trong đó có bác sĩ Hồ Thị Nghĩa, con của Hồ Viết Thắng, Phó chủ tịch Ủy ban kế hoạch nhà nước trong thập niên 80. Theo nhà văn Xuân Vũ, bà Thụy Nga đã có người yêu nhưng bị Lê Đức Thọ dàn xếp lừa bà vào một căn lều vắng để Lê Duẩn đến cưởng hiếp khiến bà phải chịu làm vợ ba. (Hoàng Dung, tr.83, 84)
Trừ Lê Hãn, Giám Đốc Tiếp Liệu cho các trường quân sự nay đã về hưu, các người con khác của Lê Duẩn đảm nhiệm các chức vụ béo bở như sau :
- Lê Kiến Trung: Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Hải quan Thành phố HCM, hiện nay là Phó Tổng Cục An Ninh, Bộ Công An.
- Lê Kiến Thành: là tỷ phú, chủ tịch Hội Đồng Quản Trị Techcombank (1994-2004), chủ tịch Công ty xây dựng và phát triển đô thị và hiện nay là Tổng Giám Đốc Công ty chế biến thực phẩm Thái Minh. Ngoài ra, Thành còn là Phó Chủ Tịch thường trực Hội Golf Việt Nam, một loại kinh doanh mang lại nhiều lợi nhuận do các 4C độc quyền nắm giữ. Báo chí trong nước hồi tháng 10/2011 xôn xao vì Lê Kiến Trung đã công kích và nói xách mé Bộ Trưởng Bộ Giao Thông Vận Tải là Đinh La Thông khi ông nầy cấm nhân viên của Bộ Giao Thông chơi golf. Bức thư của Lê Kiến Thành có đoạn như sau: «Vấn đề giao thông thấp kém lạc hậu, đầu tư vào giao thông như muối bỏ bể, một con đường quy hoạch cho 30,000 dân, giờ phải tải cả triệu người, điều nầy đã tồn tại ngót 30 năm nay. Hẳn ông Bộ Trưởng cũng biết golf mới du nhập vào VN chừng 10-15 năm nay, vậy trước khi có golf điều gì đã ảnh hưởng tới chất lượng lãnh đạo của cán bộ giao thông vận tải. Chơi golf không có tội, lãnh đạo trước hết phải thượng tôn pháp luật» (bee.net.vn/channel/1988/ 201110ngày24/10/211)
Việc tranh chấp giữa ông con của cựu bí thư bố già và ông bộ trưởng khoác lác là điễn hình của chế độ luật rừng và thế lực của 4C tại VN hôm nay.
- Lê Thị Muội : Hoàng hữu Quýnh trong tác phẩm «Tôi bỏ đảng» đã viết về cô gái nầy như sau: Trong số du học sinh VN tại Liên Sô có 3 đứa con của Lê Duẩn, học dốt nhưng lại đài các nhất. Đó là Lê Hản học tại đại học quân sự không quân, Lê thị Hồng và Lê Thị Nga.
Lê thị Hồng có tên thật là Lê Thị Muội. Là con đẻ của anh Ba, nhưng Lê thị Hồng không đồng quan điểm với ba mình. Triết lý sống của Lê thị Hồng là sống phải cho ra sống. Phải được thoải mái về mặt tinh thần. Về vật chất phải có miếng ăn ngon, phải mặc đẹp và phải biết tận hưởng mọi hạnh phúc khi tình yêu đến. Hồng đi nghỉ hè và «hành nghề» tại hải cảng Sochi trên bờ biển Hắc Hải. Không chỉ Hồng làm cái «nghề đó», các nữ sinh Liên Sô cũng vậy (Tôi bỏ đảng, tr.105). Khi về nước, Lê Thị Muội được cử làm Phó Bộ Trưởng bộ Nội Thương.
- Lê Vũ Anh tên thật là Lê Thị Nga: du học ở Nga, cãi lời cha ở lại lấy ông thầy người Nga tên Marlov, sau đó chết vì tai nạn xe cộ. Người ta đồn cái chết nầy do Lê Duẩn ra lịnh giết để giữ uy tín cho ông, (Hoàng Dung, tr. 131) không muốn cho con kết hôn với người ngoại quốc, điều cấm kỵ của đảng, ngay cho người ngoại quốc đó là người Nga. Điều nầy cho thấy việc Nguyễn Tấn Dũng làm sui gia với Việt kiều là một dấu hỏi lớn, phải chăng đảng đã cho phép để tẩu tán tài sản tham nhũng của đồng bọn.
-
Con của Lê Đức Thọ (Trưởng Ban tổ chức đảng, Ủy Viên Bộ chính trị 1956-1986)
Lê Đức Thọ tên thật là Phan Đình Khải là anh của Phan Đình Đồng (bí danh là Mai Chí Thọ) và Phan Đình Dinh (bí danh là Đinh Đức Thiện). Cả 3 anh em đều không coi trọng dòng họ của tổ tiên, giữ bí danh cho đến khi chết, thậm chí con của Lê Đức Thọ vẫn mang họ Lê là Lê Nam Thắng hiện là Thứ Trưởng thường trực Bộ Thông Tin và Truyền Thông (nghĩa là thứ trưởng số 1, ưu tiên thay Bộ Trưởng). Mai Chí Thọ là Đại Tướng, trùm Công An miền Nam sau 1975, còn Đinh Đức Thiện được phong là Thượng Tướng, giữ nhiều chức vụ cao cấp mà chức vụ sau cùng là Thứ Trưởng Bộ Quốc Phòng. Như vậy cha con chú cháu đều nắm giữ các chức vụ then chốt trong đảng và chính phủ.
Lê Đức Thọ và Lê Duẩn có nhiều điểm giống nhau: độc tài, gian xảo, cầm quyền sinh sát trong đảng lâu năm (từ 1948 đến 1986), có vào Nam công tác (Xứ Ủy Nam Bộ 1948-54, chính ủy cuộc đại tấn công miền Nam 1975) và đặc biệt là dâm đảng
Ông Bùi Tín nói rõ là 2 bà vợ của Lê Đức Thọ ở chung một nhà trên đường Nguyễn Cảnh Chân, Hànội, xưa là biệt thự của viên Hiệu trưởng trường Albert Sarraut, cùng ăn chung một bàn với ông chồng và con cái theo tinh thần Nam-Bắc đề huề. Đúng là một nhà tổ chức đại tài. (Mặt Thật, tr.177).
Trong Lớn lên với đất nước, tác giả Vy Thanh, một cựu đảng viên, sau trở về thành, du học ở Mỹ và trở về nước làm Tổng thơ ký một đại học VNCH xác nhận là Lê Đức Thọ đã dùng những thủ đoạn đê tiện hãm hiếp nữ cán bộ khi làm Xứ Ủy Nam Bộ. «Một đêm chị Thanh đang ngủ, bác Sáu (tức Lê Đức Thọ, mà trong khu gọi là Sáu Búa, chú thích của người viết) mò vô mùng chị. Chị sợ quá tốc mùng chạy la làng, làm lối xóm náo động. Đội bảo vệ bắn súng như Tây tới …» (Vy Thanh, tr. 290)
Con của tướng Nguyễn Chí Thanh
Tên là Nguyễn Chí Vịnh, sinh năm 1957, là con út của tướng Nguyễn Chí Thanh, và là em một cha khác mẹ với Nguyễn Tấn Dũng như lời đồn đãi Dũng là con rơi của Nguyễn Chí Thanh. Vịnh học ở trường đại học quân sự ở Vĩnh Yên, nhưng chưa tốt nghiệp, được tướng Lê Đức Anh, nguyên Bộ trưởng bộ Quốc Phòng rồi sau là Chủ Tịch nước nhận làm con nuôi (cũng giống như trường hợp của Dũng). Nguyễn Chí Vịnh kết hôn với con gái của Đặng Vũ Chính, Tổng cục trưởng Tổng Cục 2 là một cơ quan có quyền hành vô hạn và ngân sách khổng lồ bao trùm các hoạt động tình báo, quốc phòng, kinh tế, văn hóa của nước. (Cộng Sản có nhiều Tổng cục (TC) như: TC An Ninh, TC Cảnh Sát, TC Tình Báo, TC Xây Dựng, TC Hậu Cần…Mỗi Tổng Cục có nhiều Cục, thí dụ như TC An Ninh có cục A25 đặc trách về báo chí, Cục A18 kiểm soát ngoại kiều và Việt kiều, Cục A41 đặc trách về tôn giáo, Cục A24 chuyên về kiểm tra, xét hỏi, Cục A42 theo dõi bắt bớ những người chống chế độ. Những Tổng Cục trưởng và Cục trưởng đa số là ủy viên Trung ương đảng hay hàng họ với lãnh đạo cao cấp)
Đặng Vũ Chính đưa cả gia đình vào nắm các chức vụ then chốt của Tổng Cục. Con rể là Nguyễn Chí Vịnh là Tổng Cục Phó, con trai là Đặng Vũ Dũng từ lao động xuất khẩu trở về nước giữ chức Giám đốc Công ty xây dựng Hồng Bàng, hai con gái là Đặng Thị MaiĐặng Thị Tuyết mang quân hàm đại úy phụ trách công tác mật, vợ gốc là con buôn đảm nhiệm giám đốc Khách sạn Hoàng Đế và chi nhánh công ty Decatour ở miền Trung. Riêng Nguyễn Chí Vịnh, với sự nâng đỡ tận tình của cha vợ và cha nuôi được thăng cấp từ đại úy lên đại tướng trong một thời gian kỷ lục mà trong lịch sử quân đội chưa bao giờ có. Khi Đặng Vũ Chính về hưu, Nguyễn Chí Vịnh lên thay làm Tổng Cục Trưởng.
Bộ ba Đặng Vũ Chính, Nguyễn Chí Vịnh, Lê Đức Anh dùng nhiều thủ đoạn tinh vi như thu âm lén điện thoại, chụp ảnh (như khi Lê Khả Phiêu tằng tịu với 2 nữ nhân viên trong phái đoàn công du sang Pháp) để làm áp lực khuynh đảo các ủy viên trong Trung ương đảng hay các đối thủ bởi lẽ tất cả các chóp bu của đảng đều làm điều phi pháp, tham nhũng. Nhóm nầy còn tạo chiến dịch hạ nhục Võ Nguyên Giáp như Giáp là con nuôi của trùm mật thám Pháp Marty, Giáp là tướng bất tài, sợ chết (trong trận Điện Biên Phủ, Giáp nằm trốn trong hầm để cho Nguyễn Chí Thanh và Hoàng Văn Thái chỉ huy, nhưng khi thắng trận thì giành công; khi đánh Mỹ thì sợ bom nên không dám vào Nam), tằng tịu với vợ nhà văn Đào Vũ khi bà nầy đến dạy dương cầm. Sau khi làm mưa làm gió ở Tổng Cục 2, Vịnh được chuyển qua làm Thứ trưởng bộ Quốc Phòng và được đưa vào Ủy viên Trung ương đảng kỳ đại hội XI.
Nguyễn Chí Vịnh còn có người chị tên là Nguyễn Thị Thanh Hà có thời là Phó Cục Trưởng Cục Hàng không Việt Nam.
Con của nguyên Chủ tịch Lê Đức Anh (1992-1997)
Lê Đức Anh hiện là «bố già» trong đảng cộng sản mafia, là người lãnh đạo quân sự và chính trị cộng sản từ hơn nửa thế kỷ qua, cực kỳ thân Trung Quốc. Cả 2 ông đại tướng tên Anh (Lê đức Anh và Lê hồng Anh) đều là hai cây dù của Nguyễn Tấn Dũng (Đức Anh là dù to, Hồng Anh là dù bọc hậu) và cả hai đều xuất thân là phu cạo mủ cao su ở Hớn Quản.
Con trai của Lê Đức Anh là Lê Mạnh Hà hiện là Phó Chủ Tịch Ùy Ban Nhân dân TP HCM. Ông Hà được học bổng Fulbright du học ở Harvard từ 1998 đến 2000. Con dâu là Nguyễn thị Đoan là Phó Chủ tịch nước (thay Trương Mỹ Hoa) từ 2007 đến 2010. Bà Đoan có tiến sĩ ở Bulgarie và có tu nghiệp ở Pháp.
Những tân ủy viên Trung ương đảng trong kỳ đại hội đảng lần thứ XI (2010)
Được vào ủy viên Trung ương đảng là bảo đảm một chức vụ cao cấp, béo bở trong chánh phủ nên cuộc chạy đua vào chức vụ nầy thường diễn ra trong hậu trường với nhiều cuộc liên kết phe nhóm, tranh chấp ác liệt và đòn phép bẩn thỉu. Ngoài các nhân vật vừa kể, trong đại hội đảng lần thứ XI còn có các tân ủy viên sau đây :
- Nguyễn Xuân Anh sinh năm 1976 là con của Nguyễn Văn Chi, Ủy viên Bộ Chính Trị, Trưởng Ban Kiểm Tra trung ương. Nguyễn Xuân Anh nhảy vọt từ Bí thư huyện Liên Châu (Đà Nẳng) đi thẳng vào Trung ương đảng. Tháng 7/2011, Anh được bổ nhiệm Phó chủ tịch UBND Thành phố Đà Nẳng và chắc chẳng bao lâu sẽ là chủ tịch, nắm giữ thành trì của miền Trung
- Trần Sĩ Thanh, sinh năm 1972. Phó bí thư tỉnh ủy Darlac là cháu của Nguyễn Sinh Hùng, Phó Thủ Tướng (Nguyễn Sinh Hùng là cháu của Hồ Chí Minh). Darlac hiện nay là một vùng béo bở, có nhiều tài nguyên và nhiều cơ sở kỹ nghệ của ngoại quốc đã và sẽ thành lập tại đây.
- Trần Bình Minh : Phó Tổng giám đốc đài truyền hình VN là con trai của Trần Lâm, nguyên Tổng giám đốc đài Tiếng nói VN.
- Nguyễn thị Kim Tuyến, Thứ trưởng Bộ Y tế là cháu ngoại của cố Tổng bí thư Hà Huy Tập.
Điểm đáng lưu ý là Cộng Sản đặt chỗ cho con cháu trước tiên vào ghế số 2 ở mỗi cơ quan bằng các chức vụ như phó (Phó Tổng Cục, Phó Cục, Cu Phó Giám đốc, Phó ban..), hay thứ (Thứ Trưởng) để chờ khi các ông số 1, vốn đang có những dù lộng cũng to để chiếm chỗ khi các ông số 1 về hưu, được điều động đi nơi khác để nhường chỗ, hay bị hất chân khi cái gốc không còn đứng vững.
Những hình thức «truyền ngôi» cho con cháu, hàng họ trong chế độ Cộng Sản
Không thể nào kể hết chi tiết các tên họ những 4C, bởi lẽ chế độ con ông cháu cha cộng sản chằng chịt ngang dọc từ trung ương đến địa phương như những dây leo, hay đúng ra như những tế bào độc hại của bịnh ung thư tràn lan khắp cơ thể, chúng tôi xin tóm tắt tổng quát cách truyền ngôi, tập quyền và tản quyền của hệ thống 4C theo như tổ chức mafia dưới 3 hình thức chính yếu là: tham chính, lập công ty kinh doanh, kết thông gia và bè đảng.
*Tham chính
Thông thường, những người có học, có khả năng thường được đề cử, bổ nhiệm vào các chức vụ chỉ huy trong các cơ quan của đảng hay chính phủ. Ngoài những nhân vật kể trên, cần kể thêm một số nhân vật đang tại chức hay vừa rời chức vụ gần đây.
- Nguyễn Thiện Nhân : Phó thủ tướng là con của y sĩ Đông Dương Nguyễn Thiện Thành, gốc người tỉnh Trà Vinh (có tài liệu ghi là Biên Hòa) một cán bộ cao cấp cộng sản đã tham gia từ phong trào Việt Minh. Mặc dù Nguyễn Thiện Nhân đậu tiến sĩ ở Đông Đức và có tu nghiệp ở Harvard, đã bị mất chức Bộ Trưởng bộ Giáo Dục vì bất tài nhưng lại thích phô trương, đã đưa nền giáo dục VN đến chỗ lạc hậu, nhưng vẫn được tiếp tục lưu nhiệm chức vụ Phó thủ tướng, đúng như lời mỉa mai của giáo sư Hoàng Tụy, một nhà giáo dục được trong nước và ngoại quốc nể trọng : Bộ giáo dục (ý nói ông Nhân) trơ như đá, vững như đồng.
- Phạm Bình Minh: hiện là Bộ Trưởng Bộ ngoại giao, con của Nguyễn Cơ Thạch (tên thật là Phạm Văn Cương), phụ tá cho Lê Đức Thọ trong hội nghị hòa đàm Paris và là Bộ Trưởng bộ ngoại giao sau đó (1980-1991). Có tin là con của Phạm Bình Minh cũng đang du học ngành ngoại giao hi vọng nối nghiệp cha ông.
- Trần Tuấn Anh: nguyên lãnh sự Việt Nam tại Hoa Kỳ (San Francisco) là con của chủ tịch Trần Đức Lương.*
* Lập công ty
Những con cháu cán bộ cao cấp không có khả năng học vấn hay thiếu đạo đức (thực ra ông cha cũng đã thiếu đạo đức, nhưng thành phần các ông con nầy trác táng, lêu lỏng, không thể đảm nhiệm vai trò chỉ huy) thì quay ra kinh doanh, lập công ty. Thực ra những công ty nầy chỉ là bình phong để lợi dụng danh nghĩa của ông cha mà làm giàu phi pháp. Số 4C loại nầy thì kể sao cho hết bởi tràn lan khắp nơi ăn chịu với khắp các cơ quan. Chỉ đan kể vài tên con cháu của các cấp lãnh đạo ở Trung ương đảng.
Con rể của Võ Nguyên Giáp
Tên là Trương Gia Bình, là một tỷ phú, giám đốc công ty FPT, là một trong những công ty lớn nhất nước cung cấp dịch vụ internet, truyền thông.
Con rơi của cố thủ tướng Võ Văn Kiệt
Võ văn Kiệt tên thật là Phan Văn Hòa, người được xem là cấp tiến, mở đầu cho phong trào đổi mới kinh tế. Nhân nói đến đứa con rơi của Võ văn Kiệt tên Phan Thành Nam, tưởng cần nói qua về đạo đức tồi tệ của các nhà lãnh đạo đảng cộng sản.
Ông Hoàng Dũng, Thư ký Văn phòng Trung Ương đảng đã viết về lai lịch của Phan Thành Nam như sau: Theo cụ Nguyễn Văn Linh kể thì Bộ chính trị lúc bấy giờ biết rằng cụ Hồ gặp những khó khăn và thiếu thốn về tình cảm cá nhân, như chuyện muốn nối lại mối tình với người vợ cũ ở Trung Quốc nhưng bị phản đối, do vậy bộ Chính trị có bí mật sắp xếp nhiều người phụ nữ khác để chăm sóc và phục vụ cụ Hồ về mặt sinh hoạt tình dục. Đặc biệt từ thuở còn thanh niên, cụ Hồ đã có một mối tình rất đẹp với một người con gái miền Nam (sự thật nầy đã được nhà văn Sơn Tùng sưu tầm và công bố trong bài viết «Đi tìm Út Huệ»). Biết thế nên lúc nầy Nguyễn Văn Linh là Bí thư Trung ương cục miền Nam phải kín đáo tìm kiếm trong số những cán bộ, du kích miền Nam một số cô gái còn trẻ đẹp để đưa ra miền Bắc phục vụ cụ Hồ và các vị trong bộ Chính trị (đứng đầu là Lê Duẩn và Lê Đức Thọ). Thời điểm đó thì Võ Văn Kiệt đang là ủy viên Trung ương cục được cụ Linh tin tưởng tuyệt đối và giao cho trực tiếp phụ trách nhiệm vụ đặc biệt nầy. Trong số vài cô gái tuyển lựa được lúc đó chuẩn bị bố trí bí mật đưa ra miền Bắc có một cô còn trẻ và sắc sảo họ Phan. Giữa lúc đó thì tình hình chiến sự đang diễn ra khá ác liệt nên không thể đưa các cô đi ngay được và rồi không hiểu thế nào mà ông Kiệt lại quan hệ dan díu với chính cô gái họ Phan kia. Đến lúc sự việc vỡ lỡ thì cô gái đã có thai mấy tháng, thế là cô ta phải ở lại và cái bào thai đó chính là Phan Thành Nam.
Phan Thanh Nam hiện nay là một tỷ phú đỏ, Tổng Giám Đốc Công Ty quốc doanh Tracodi, chuyên về «xuất khẩu lao động», xuất cảng hàng hóa, xây cất và du lịch.
Điều cần nói thêm là ông Kiệt cũng có chính thức 2 vợ: bà vợ cả tên là Trần Kim Anh và 3 đứa con đã chết trong chiến tranh, chỉ còn lại đứa con gái tên là Võ Hiền Dư. Ông lấy vợ kế là Phan Lương Cầm nổi tiếng tham nhũng được các công ty đặt tên là Bà Mười Cầm vì tất cả các dự án đầu tư đều phải đóng «hụi chết » cho bà ít nhứt 10%.

Con của nguyên thủ tướng Phan Văn Khải

Tên là Phan văn Tỵ tục danh là Hoàng Tỵ là một tay du đảng chọc trời khuấy nước, có lần vì tranh giành địa bàn buôn lậu đã bắn chết Phạm Văn Hưng là sĩ quan công an, con của Phạm Thế Duyệt cũng là đảng viên trong Trung ương đảng, chủ tịch Mặt Trận Tổ Quốc. Về kinh doanh, Hoàng Tỵ lợi dụng thế lực của cha và của các đồng chí của cha, nhập cảng lậu xe hơi cũ rồi tân trang lại bán sang Trung Đông, nhập cảng xe đạp mới nguyên chiếc từ Thái Lan, Singapore đem tháo ra từng bộ phận rồi lắp ráp lại (bởi luật VN lúc ấy chỉ cho phép bán xe đạp lắp ráp ở VN), bán với giá gấp đôi gấp ba. Hoàng Tỵ cũng là chủ nhân của hai đại khách sạn Hoàng Gia và Planet ở Saigon và HàNội, cho du khách ở tại hai khách sạn nầy được ưu tiên khỏi bị xét hỏi khi đến và khi rời phi trường. Nhờ tất cả mánh khoé và thế lực, Hoàng Tỵ cũng là một tỷ phú.
Con của Tướng Phùng Quang Thanh, Bộ Trưởng bộ Quốc Phòng
Phùng Quang Thanh xuất thân là một bộ đội không có học thức nhưng nhờ phe cánh thân Trung Cộng trong đảng nên được phong quân hàm đại tướng, giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng từ nhiều năm nay. Con trai của Phùng Quang Thanh là Phùng Quang Hải, lý lịch cũng không ghi học lực và trường đào tạo, nhưng mang cấp bậc Thượng tá, là Tổng giám đốc Công ty xây dựng 319 là một công ty quốc doanh bao gồm hơn mươi công ty hoạt động trong lãnh vực xây cất, cung cấp vật dụng cho quân đội và các cơ quan chính phủ trên địa bàn khắp nước. Đây là một nguồn lợi khổng lồ cho gia đình họ Phùng và các phe cánh trong đảng để tham nhũng và độc quyền các lãnh vực béo bở.
Nếu cần phải kể thêm thành tích của những 4C vì ăn chia không đồng đều bị tố cáo hay bị ra tòa, hay bị làm vật tế thần thì có mấy vụ gần đây như Mai Văn Dậu, Thứ trưởng Bộ Thương Mại bị ra tòa cùng với con là Mai Thanh Hải vì tham nhũng trong việc xuất nhập cảng, Đoàn Văn Kiểm, chủ tịch Hội đồng Quản Trị Tập đoàn Than - Khoáng sản bị bãi chức vì cho phép em là Đoàn Duy Thức khai thác quặng mỏ trái phép, Phạm Thanh Bình, chủ tịch Hội Đồng Quản trị Tổng đoàn Công nghiệp Tàu Thủy VN bị bắt giam vì bổ nhiệm con trai là Phạm Bình Minh (một Bình Minh khác, không phải là Bình Minh con Nguyễn cơ Thạch) vào công ty Vinashin, Đỗ Trung Tá, Bộ trưởng bộ Bưu Chính Viễn Thông, bị cảnh cáo vì cho con rể là Hoàng Minh gian lận trong việc trúng thầu.
Đảng Cộng Sản Việt Nam cai trị bằng bạo lực và áp dụng luật mafia ngay trong hàng ngũ đảng viên cao cấp của họ theo kiểu mạnh được yếu thua. Trong sự phá sản hàng tỷ mỹ kim của công ty Vinashin, người chịu trách nhiệm là Nguyễn Tấn Dũng thì không hề hấn gì trong khi bộ trưởng Phạm Thanh Bình bị bắt giam vì một sự bổ nhiệm. Vụ ăn hoa hồng trong việc in giấy bạc polymer ở Úc (12 triệu Úc kim) liên hệ đến nguyên Thống đốc ngân hàng Lê đức Thúy đã có bằng chứng rõ ràng thì chẳng ai bị tù tội.
Lãnh đạo Việt Nam hôm nay làm trò hề và gây ô nhục cho đất nước mà không biết nhục. Vũ Văn Hiến, Ủy viên trung ương đảng, Tổng giám đốc Truyền hình VN gởi con gái tên Kiều Trinh sang Thụy Điển tu nghiệp bị cảnh sát Thụy Điển bắt vì ăn cắp trong siêu thị, bị báo chí trong nước phanh phui nhưng vẫn được bổ nhiệm làm Trưởng phòng Văn hóa – Du Lịch của đài truyền hình, chưa kể Hiến đưa bè đảng vào cơ quan để tham nhũng, bị nhân viên các cấp tố cáo nhưng vẫn bình chân như vại.
*Kết thông gia và bè đảng
Người Việt Nam ta có câu Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã, những cán bộ cao cấp gian manh thường tìm gần nhau để hợp quần gây sức mạnh trong công cuộc trấn áp, bóc lộ lương dân. Những cuộc liên kết giữa các cán bộ qua các cuộc hôn nhân là một hình thức lưu chuyển quyền hành và tham nhũng theo hàng ngang và hàng chéo đến độ hệ thống tham nhũng Việt Nam hôm nay là những loại ung thư đang tàn phá một cơ thể chỉ chờ ngày bị tiêu hủy toàn diện. Dĩ nhiên không sao kể hết loại liên kết nầy, chỉ cần đan kể vài thông gia gần đây tạo nhiều tai tiếng to lớn.
Tại Việt Nam, nhắc đến tướng công an Nguyễn Đức Nhanh là người dân kinh sợ và khinh bỉ vì chánh sách đàn áp lương dân và tham nhũng của tên trùm công an nầy (đàn áp giáo dân Thái Hà). Nhanh đảm nhiệm 2 chức vụ: Phó Tổng cục trưởng Tổng cục 2 (tổng cục 1: lo về tình báo hải ngoại, tổng cục 2: lo về an ninh quốc nội) kiêm Giám Đốc Công An TP HàNội. Nguyễn Đức Nhanh kết thông gia với Nguyễn Thanh Sơn, Thứ trưởng bộ ngoại giao, Chủ tịch Ủy Ban nhà nước về người VN ở nước ngoài. Như vậy hai gia đình thông gia nầy đảm nhiệm vai trò chiến lược của đảng Cộng Sản và chánh phủ Việt Nam.
Trương Mỹ Hoa, Phó chủ tịch Quốc hội (2002-2007) là con của Trương Văn Đẩu, Tỉnh ủy viên Gò Công (cũng gốc là phu cạo mủ cao su) có em là Trương thị Hiền, Hiệu trưởng trường Cán bộ TPHCM, kết hôn với Lê Thanh Hải, Ủy Viên Trung ương đảng, Thành ủy TP Hồ Chí Minh. Lê Thanh Hải làm sui với Huỳnh Ngọc Sỹ nổi tiếng trong vụ tham nhũng xây xa lộ Đông Tây nối liền từ Bình Chánh đến Saigon, qua Thủ Thiêm chạy đến Cát Lái trên đường về miền Tây. Xa lộ nầy do Nhật viện trợ và giao cho công ty Nhật PCI xây cất, Huỳnh Ngọc Sỹ làm quản lý. Lúc đầu, Sỹ đòi hối lộ 15%, sau sụt xuống 10% và đã nhận 2.6 triệu MK thì bị báo chí Nhật phanh phui, 4 người đại diện công ty Nhật bị Nhật bắt giữ vì đưa hối lộ. Chánh phủ Nhật đòi Việt Nam phải có biện pháp chế tài với người nhận hối lộ là Huỳnh ngọc Sỹ nhưng VN vẫn binh vực Sỹ khiến Nhật trả đủa bằng cách ngưng tất cả tiền cho vay ODA và đòi lại 30 triệu tiền viện trợ, điều hiếm có trong lịch sử bang giao quốc tế. Trước áp lực của các quốc gia viện trợ cho VN và Mỹ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đành phải miễn cưởng đưa Sỹ ra tòa với án chung than khổ sai, sau giảm xuống 20 năm tù. Thì ra Sỹ chỉ là vật tế thần của một tập đoàn tham nhũng, mà những án vụ tham nhũng như thế chỉ là hãn hữu trong số ngàn ngàn vụ tham nhũng chẳng bao giờ bị phanh phui bởi được bao che từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài và 700 cơ quan truyền thông trong nước chỉ là bầy két lập lại luận điệu của nhà cầm quyền. Tuy nhiên, thỉnh thoảng vẫn có một vài ngoại lệ khi báo chí đăng tin tham nhũng liên quan đến 4C, hoặc vì nhà báo có lương tâm, hoặc vì thanh toán nội bộ bởi chia phần không sòng phẳng. Thí dụ như trường hợp khi báo chí đăng tin tiền in của công ty TechBank của Lê Đức Minh là con của nguyên thống đốc ngân hàng Lê Đức Thúy không có phẩm chất thì hai tờ báo Thời ĐạiCông Lý bị đình bản, và 6 tờ báo khác như Tuổi Trẻ, Thanh Niên, An Ninh Thủ Đô, Công Luận...bị cảnh cáo.
Về chuyện nhà báo bị khủng bố vì dám đá động đến việc tham nhũng của các 4C, tưởng cũng nên nhắc lại một vụ tham nhũng lớn bị phanh phui cách đây 5 năm, nhưng vụ án đã bị ém nhẹm vì liên quan đến các thủ phạm ở chóp bu, nhưng hai phó tổng biên tập của báo Thanh NiênTuổi Trẻ bị bắt giam và 5 phóng viên bị thu hồi thẻ hành nghề vì tội phá hoại an ninh quốc gia. Vụ tham nhũng bị vở lở khi công an bắt được 2 cầu thủ cá độ ngày 13/12/2005 và cuộc điều tra cho biết Bùi Tiến Dũng, Tổng Giám Đốc Đơn vị Quản Lý các dự án PMU-18 đã chi tiêu 2.6 triệu trong trò chơi cờ bạc nầy. PMU-18 (Project Management Unit) trực thuộc bộ Giao Thông Vận Tải (GTVT) là cơ quan phụ trách thực hiện xây cất các dự án cầu đường với số vốn 20 tỷ gồm ngân sách quốc gia và quỹ tài trợ ODA của Nhật, Tây Âu và Ngân hàng Quốc Tế (World Bank). Bùi Tiến Dũng là con trai của Bùi Thiện Ngộ, Bộ trưởng Bộ Công An, cấu kết với Nguyễn Việt Tiến (Thứ trưởng Bộ GTVT), Phạm Tiến Dũng (Trưởng phòng tài chánh), rể của Nguyễn Việt Tiến cùng với Phạm Hoàng Hải, rể của Nông Đức Mạnh, Nguyễn Việt Bắc, rể của Đào Đình Binh (Bộ trưởng Bộ GTVT) cùng với nhiều bạn bè hàng họ lập ra hàng chục công ty để trúng thầu dù các công ty nầy không khả năng và không vốn. Tài sản tham nhũng của Nguyễn Việt Tiến, Phạm Hoàng Hải, Nguyễn Việt Bắc, mỗi người trên trăm triệu MK. Báo Thanh Niên tiết lộ là có ít nhất 40 quan chức cao cấp liên quan đến vụ tham những khổng lồ nầy. Bị gọi ra thẩm vấn trước tòa án, Bộ trưởng Đặng Đình Binh tuyên bố «Tôi thuộc diện Trung ương quản lý» có nghĩa là chỉ trả lời với trung ương đảng mà thôi. Ngoài ra, 2 đảng viên cao cấp là tướng Cao ngọc Oánh, Cục trưởng Cục điều tra C15, Phạm Xuân Quấc, Cục trưởng Cục điều tra C14 cũng bị dính líu, nhưng được miễn truy tố, rốt cuộc chỉ có Bùi Tiến Dũng và các « tép riu» bị lãnh án.
Một vụ tham nhũng khác gần đây còn to tát hơn là vụ Vinashin liên quan đến thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng làm thất thoát 5 tỷ mỹ kim, nhưng rút kinh nghiệm đau thương vụ PMU-18, không một tờ báo nào dám hé môi. Trên thế giới, có quốc gia nào tham nhũng và ngang ngược như Việt Nam cộng sản hay không ?
Ngoài việc cấu kết quyền lực bằng kết thông gia, các cán bộ cộng sản các cấp đều kết nạp đàn em hàng họ làm vây cánh để chia chác lợi nhuận tham nhũng và bao che lẫn nhau. Điển hình như khi Nguyễn Tấn Dũng về trung ương thì kéo theo Lê Hồng Anh vào bộ Công An, Huỳnh Vĩnh Ái vào chức vụ Phó chủ tịch Ủy ban Thể Thao quốc gia (như Thứ trưởng), Trần Chí Liêm, Thứ trưởng Bộ Y Tế. Đọc lý lịch các cán bộ trong các cơ quan nhà nước và công ty quốc doanh, từ trung ương đến làng xã đều thấy bóng dáng của nguời chỉ huy. Một người bạn của người viết khi về thăm quê hương ở một quận lỵ thuộc tỉnh Long An gặp rất nhiều nhân viên trong quận, thậm chí đến người phu quét chợ, nói tiếng giọng «trọ trẹ» như ông huyện ủy. Trong khi đó, đồng chí Giải phóng miền Nam thì phải trở về cái chòi lá xiêu vẹo bên bờ kinh để chờ chết trong nghèo đói, và bà mẹ chiến sĩ răng rụng quần áo tả tơi đứng trước cơ quan xỉa xói «phải chi hồi đó tao kêu lính Quốc Gia bắt nhốt hết cái bọn khốn nạn nầy !».
Cái «bọn khốn nạn» nầy đã dùng mọi mưu chước xão quyệt để cai trị với chánh sách bạo ngược miền Bắc trong 66 năm và cả nước trong 36 năm qua và hôm nay run sợ phủ phục trước bọn đàn anh láng giềng để «dựa hơi» tiếp tục kềm kẹp 90 triệu dân Việt Nam hầu tiếp tục vơ vét bóc lột mà viễn ảnh cuộc cách mạng mùa xuân Á Rập làm chúng vừa hoảng hốt, vừa càng hung hản hơn.
Thay lời kết
Khi Việt Nam bắt đầu mở cửa với chánh sách gọi là «đổi mới» vào cuối thập niên 80, khi sinh viên Việt Nam lũ lượt ra nước ngoài du học hay tu nghiệp, nhiều người Việt Nam trong nước và nhất là ở hải ngoại hi vọng nước Việt Nam sẽ lần lần thoát khỏi được chế độ độc tài, nghèo đói và chậm tiến. Họ hi vọng với sự tiếp cận tinh thần tự do và kỹ thuật Tây phương, đất nước Việt Nam sẽ được khai phóng hơn. Nhưng đó chỉ là ảo vọng. Trong 20 năm qua, hàng ngàn sinh viên Việt Nam du học và tu nghiệp ở các nước dân chủ và kỹ nghệ đã trở về nước, chẳng những không giúp gì cho đất nước khả quan hơn mà còn đồng lỏa với những người lãnh đạo bất tài, vô lương để gia tăng thêm guồng máy tham nhũng, đưa đất nước mỗi ngày mỗi tồi tệ hơn. Hãy nhìn vài ủy viên trung ương đảng như Nguyễn Thiện Nhân, Cao Đức Phát, Lê Mạnh Hà, Lê Đức Thúy, Nguyễn Thị Đoan, Phạm Bình Minh, Nguyễn Thanh Nghị ...và biết bao Bộ trưởng, Tổng giám đốc, Giám đốc cơ quan là những sinh viên tốt nghiệp từ Mỹ, Canada, Úc, Anh, Đức, Pháp, họ chỉ lợi dụng cái nhãn hiệu du học ngoại quốc để vinh thân phì gia, làm tay sai hay tác nhân trong hàng ngũ quỷ đỏ. Họ chỉ là những cái lọ bằng đất sét được tráng men và một đất nước bị cai trị bằng những cái đầu nhồi nhét đất sét thì làm sao khá lên được.
Khi cuộc «cách mạng mùa xuân» lần lượt bùng nổ tại các quốc gia Á Rập, nhiều người Việt Nam ở hải ngoại và một ít người Việt Nam trong nước hớn hở. Họ hớn hở bởi họ hi vọng khi thấy những chế độ độc tài đã thống trị ngót mấy mươi năm tại những vùng đất mà không ai nghĩ dân chúng có thể nổi dậy thì bỗng chốc lại bốc lên khói lửa, dân chúng đồng loạt xuống đường để lật đổ chế độ độc tài, thanh toán bè lũ ác ôn. Người Việt hải ngoại hi vọng những biến cố nầy sẽ lan tràn đến Việt Nam. Nhưng hi vọng ấy chóng đi qua để trở về với nỗi thất vọng bởi lẽ Việt Nam hôm nay chưa hội tụ đủ những yếu tố của một cuộc «cách mạng mùa xuân Á Rập ».
Trước tiên phải kể đến chế độ kiểm soát, kềm kẹp người dân VN quá tinh vi và nghiệt ngã. Tuy những thống kê của nhà nước mang bản chất phô trương, khoác lác, với con số 3 triệu đảng viên, 2 triệu cảnh sát công an và nửa triệu quân nhân, tuy vẫn biết có nhiều đảng viên bất mãn vì bị lừa dối hay bị bạc đãi, và không phải cảnh sát công an nào cũng có được chức vụ để có thể tham nhũng trong một xã hội có nền văn hóa phong bì, nhưng phải hiểu là thành phần trung kiên, cúc cung tận tụy cho chế độ, chiến đấu cho chế độ đến giọt máu cuối cùng để cùng chia sẻ và bảo vệ quyền lợi cũng rất đông đảo. Bị nhuộm đỏ khối óc và đánh mất lương tri, nhóm đảng viên lớn nhỏ nầy đang chia chác các đặc quyền đặc lợi trong một hệ thống quyền lực mafia, dùng mọi biện pháp sắt máu để cai trị và bóc lột người dân còn thậm tệ hơn thời Pháp thuộc.
Trong lịch sử, cuộc cách mạng nào cũng bắt đầu bằng sự nổi dậy của khối người bị áp bức. Nhưng muốn cảm nhận được sự áp bức, người dân cần được thông tin những quyền lợi căn bản của con người, những cảnh sống tự do, no ấm để từ đó cảm nhận thân phận mà đòi hỏi. Dưới chế độ độc tài, công an trị của cộng sản Việt Nam, mọi thông tin từ bên ngoài, bên trong có mảy may bất lợi cho chế độ đều bị kiểm duyệt và ngăn chận, mọi hành động đối kháng đều bị tiêu diệt từ trong trứng nước. Người dân chỉ được quyền nghe biết những gì chánh phủ nói. Từ khi có truyền thông qua trang mạng, thông tin tuy có lưu hành nhiều hơn, nhưng luôn bị bức tường lửa ngăn chận. Internet vẫn còn là phương tiện truyền thông của lớp thị dân trung lưu hay giàu có, vốn là thành phần bằng lòng với cuộc sống, với chế độ, trong khi 80% dân số là những nông dân, thợ thuyền nghèo khổ, ít học, phải vật vã với bữa no bữa đói thì thời giờ tim óc đâu mà nghe tin tức, mà nghĩ đến đấu tranh trong cảnh giành giựt giữa những người đồng cảnh ngộ và trạng thái kềm kẹp thường xuyên của hệ thống cán bộ, công an .
Ngoài chuyện thông tin từ thế giới bên ngoài và trong nước bị bưng bít, bị kiểm duyệt, cơ cấu dân số VN hiện nay còn là một yếu tố giải thích phần nào lý do cuộc «cách mạng mùa xuân» chưa đến VN. Nếu tính với người dân VN sinh ra sau 1975 thì thành phần nầy nay đã 35 tuổi và nếu phải kể thêm những đứa trẻ khoảng 5 tuổi vào năm 1975 thì đến nay họ cũng đã đến tuổi 40. Đó là thế hệ người Việt chẳng biết gì về chiến tranh Việt Nam, chẳng có ý niệm gì về chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Năm 2008, số người VN dưới 40 tuổi chiếm đến 66% dân số. Ngoài ra, lớp trẻ sinh ra sau 1986 là năm cộng sản bắt đầu chánh sách đổi mới kinh tế thì đến nay lớp người nầy đã hơn 20 tuổi. Như vậy, trên đất nước VN hiện nay có hơn phân nửa dân số chưa biết thế nào là kinh tế «xếp hàng cả ngày» và chế độ «Mỹ Ngụy» để họ có thể xác định một lập trường chính trị rõ rệt chống Cộng hay theo Cộng. Dĩ nhiên, sanh ra và lớn lên trong nền giáo dục bác đảng và văn hóa phong bì, đa số người Việt Nam trong nước hiện nay không có chọn lựa nào khác là phải sống theo những bản chất của người cộng sản. Tuy nhiên, đó cũng là một sức mạnh vô song để hi vọng lật đổ chế độ bạo tàn cộng sản nếu khát vọng tìm tự do và no ấm được huy động.
Khi 36 người tự xưng là trí thức gởi thư ngỏ cho chánh phủ bạo quyền, nhiều chống đối và mỉa mai vì «quá khứ» của người chủ xướng và cung cách, ngôn từ sử dụng trong thư ngỏ đã khiến một số người có thành tín, ưu tư với đất nước đồng ký tên bị vạ lây. Phải hiểu rằng những người bỏ xứ ra đi là những người không chấp nhận sống với chế độ Cộng Sản và sự trở về, thỏa hiệp với chế độ là hành động thiếu lương tri. Vã chăng, với 66 năm cầm quyền bằng phản bội, dối trá và bạo lực của chế độ cộng sản đã quá đủ để cho người có chút suy nghĩ hiểu rằng thỏa hiệp với cộng sản đồng nghĩa với khuất phục hay đầu hàng. Với cộng sản, biên giới bạn và thù họ đã vạch rõ. Trừ một thiểu số người, chỉ vì ham danh ham lợi, ngụy trang dưới lớp son phấn thương nước thương dân, đã ra đi trong nhục nhã năm xưa rồi hôm nay quay về hợp tác với bạo quyền, cộng đồng 3 triệu người Việt tỵ nạn trên thế giới tự do trong 36 năm qua, mỗi người, mỗi cách đã kiên quyết chống chế độ cộng sản. Những cuộc biểu tình, tuyên ngôn, bài viết, bài nói chuyện của cộng đồng người Việt tỵ nạn qua các phương tiện truyền thông phổ biến khắp năm châu là một sức mạnh mà cộng sản khiếp sợ bởi lẽ đó là tiếng nói của người Việt tự do nói cho Thế giới tự do biết được những xấu xa của chế độ cộng sản Việt Nam, và do đó chánh quyền cộng sản tìm mọi cách ngăn chận tiếng nói nầy vang dội trong nước làm thức tỉnh 90 triệu người dân đang bị họ bịt mắt bịt tai.
Hàng năm, vào dịp Tết, dịp hè, hàng triệu người Việt, trước đây đã bị bạo quyền đày ải trong các trại tù, trại cải tạo, hay nín thở trong các đám lau sậy chờ giờ lên ghe, đi tìm cái sống trong cái chết, thì nay họ đã sớm quên những ngày ngục tù, nhục nhã khi xưa, nhởn nhơ trở về du hí trên cái đất nước mà đồng bào họ không có cơ may vượt thoát được. Sự có mặt của những du khách Việt kiều nầy cũng là một nguyên nhân khiến cho «cuộc cách mạng mùa xuân» chậm đến. Họ hằn sâu thêm hố ngăn cách giàu nghèo và niềm cay đắng giữa những người đồng cảnh ngộ khi xưa, và dưới mắt của người bất hạnh, có gì khác biệt trong sự phản bội giữa người bạn cũ và người thù mới. Người bạn cũ phải ngoảnh mặt để khỏi bị tủi nhục mà kẻ thù mới còn khinh rẻ họ nhiều. Tuy nhiên, không phải ai trở về cũng là những du khách bị «mất trí». Có những người, phải nói là hiếm hoi, trở về quê để xây lại mồ mả tổ tiên đã bị cộng sản đào xới vì hận thù, vì chiếm đất, hay mang về những món quà mà họ đã chắt chiu dành dụm trong những ngày lao tâm lao lực ở xứ người để tiếp sức cầm hơi cho thân nhân đói khổ, thông tin cho người bị bịt tai biết được những quyền tự do, bình đẳng ở thế giới bên ngoài để như vết dầu thắp sáng ngọn nến cách mạng. Nếu cứ mỗi năm, hai triệu du khách Việt kiều trên các nẽo đường du hí, thay vì nhi nhô tiếng Tây tiếng Mỹ, khoe khoang nhà cao cửa rộng, thực hay láo, làm cho đồng bào nghèo khổ càng thêm bi phẩn, thì hãy mang về cho đồng bào những bản tin, những tấm ảnh, đại loại như cha Lý bị bịt miệng trước tòa án, công an đánh đập giáo dân Thái Hà, công ty Vinashin bị tập đoàn lãnh đạo tham nhũng hàng tỷ mỹ kim, để cho người dân biết được sự thật bị bít kín, khơi động mối hận thù cộng sản, thì cuộc cách mạng mùa xuân Việt Nam có cơ may sẽ đến nhanh hơn.
Nghĩ cho cùng, lịch sử chỉ là sự lập lại những biến cố giống nhau trong những thời điểm và địa điểm khác nhau. Mọi chế độ độc tài rồi cũng bị tiêu diệt. Hình ảnh cha con Kadhafi phơi thây sình thúi trong cái nhà kho, Moubarak nằm im bất động trên cái «băng ca» trước tòa án, phải chăng đó cũng là hình ảnh ngày tàn của những bạo chúa cộng sản Việt Nam một ngày nào, xa hay gần.
Lâm Văn Bé
12/2011
Tài liệu tham khảo
- Bùi Tín. Mặt Thật.- Paris : Turpin Press, 1994.
- Hoàng Dung. Sau bức màn đỏ. – Virginia : Tiếng Quê Hương, 2007.
- Hoàng Hữu Quýnh. Tôi bỏ đảng.- Midway City : Mister Print, 2002.
- Vy Thanh. Lớn lên với đất nước.- Westminster : Tủ sách Sự Thật, 2006.
- Các trang mạng điện tử trong đó có bài viết của Hoàng Dũng.